Quay về trang chủ

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

CHÙA PHÁP THƯỜNG




HÀNH TRANG VỀ ĐẤT PHẬT

Tỳ kheo Thích Thiện Pháp

Kính thưa quý Phật tử và chư thiện hữu tri thức,

Hôm nay, ngày chủ nhật 26 tháng 3 năm Bính Tuất, Phật tử vân tập về chùa để niệm Phật. Trong giờ phút thanh tịnh trang nghiêm này, chúng tôi xin cúng dường quý vị một thời pháp với tựa "Hành trang về đất Phật".

Cổ nhân có dạy:

Ái bất trọng bất sanh Ta bà,

Niệm bất nhất bất sanh Tịnh Độ.

Chúng sanh vì vô minh tham ái nên phải sanh trong cõi Ta bà, đầy lo âu, sợ hãi, phiền muộn. Do vậy, nếp sống hạnh phúc là vấn đề muôn thưở mà con người luôn khát vọng tìm kiếm, nhưng tất cả hạnh phúc mà con người có được chỉ mong manh tạm bợ. Bởi vì kiếp người vốn vô thường, ngắn ngủi, một hơi thở ra mà không hít vào là hết một đời người. Những ước muốn, những dự tính cho tương lai không chắc đạt được.

Cực lạc là cảnh giới Tịnh độ của chư Phật, là trạng thái tâm tột cùng yên vui của người giác ngộ. Cực lạc là cảnh giới lý tưởng mà chúng sanh ở cõi Ta bà luôn ước mơ vươn tới.

Muốn thoát khỏi khổ đau, và thọ hưởng niềm vui cõi Cực Lạc, hành giả cần chú trọng ba yếu tố là: phước đức, trí tuệ và từ bi. Đây là ba món tư lương giúp cho hành giả trừ tâm cấu uế, chuyển hóa mê lầm, tịnh hóa thân tâm, được về đất Phật. Chúng ta hãy chiêm nghiệm bài kệ sau đây:

Người tạm trú trong đời

Có thời gian hạn định

Vô thường không hứa hẹn

Không tha bất cứ ai.

Thấu biết được như vậy

Tự chuẩn bị hành lý

Như phước, trí, từ bi

Gói gọn vào nghiệp thức.

Khi thần chết hiện đến

Ta bình thản ra đi

Với một chiếc va ly

Đựng toàn đồ trân báu.

Những hành lý cồng kềnh

Như tiền bạc, nhà cửa

Để lại cho dương thế

Không đem được món gì.

Quý Phật tử có cảm nhận kiếp người thì mong manh, cuộc sống tạm bợ, thay đổi không ngừng, khi còn khi mất như tuồng sân khấu? Vậy nên hãy cố gắng tinh tấn tu hành, tạo cho mình đầy đủ phước, trí và từ bi mà nhanh chóng trở về cố hương yêu dấu.

Phật dạy: "Mạng người ở trong một hơi thở", thở ra mà không hít vào là hết một đời! Bất luận lúc nào, giờ phút nào, con người cũng có thể chết được, không một ai có đủ tài năng bảo đảm đời sống của mình vững chắc, lâu dài. Con người sống trong hiện đời này chỉ là tạm trú. Có người tạm trú ba tháng, mười tháng, năm mươi năm, tám mươi năm... là hết hạn. Một đời người trôi qua nhanh như nước chảy, chẳng mấy chốc tóc xanh đã bạc màu sương tuyết. Dù muốn hay không, không một ai tránh khỏi vòng vận hành "sanh, già, bệnh, chết".

Người tạm trú trong đời

Có thời gian hạn định

Vô thường không hứa hẹn

Không tha bất cứ ai.

Quý Phật tử đến một nghĩa địa, hay nhà cửu huyền trong chùa thì thấy rõ: Bất luận nam nữ, già trẻ, sang hèn đều chịu sự chi phối của vô thường. Dù thông minh tài trí, hay ngu dại, chung qui rồi cũng phải trở thành cát bụi. Những hình ảnh đó là thông điệp mà Diêm vương gởi đến báo cho chúng ta biết trước rằng: "Hôm nay người này chết, ngày mai tôi cũng chết như họ".

Diêm vương đã gởi rất nhiều thư, nhưng chúng ta không chịu xem. Những loại thư đó không phải viết bằng giấy trắng mực đen, nên người không biết cách xem thì vĩnh viễn không thể hiểu được!

Trong Khế Kinh có kể rằng: Trên nhân gian có một người chuyên làm việc ác, khi chết bị quỷ sứ bắt dẫn đến trình vua Diêm vương, Vua hỏi:

- Ở trên nhân gian sao ngươi không chịu làm việc thiện, gây chi ác nghiệp để rồi phải đọa xuống đây khổ sở thế này?

- Thưa Diêm chúa, ở trên nhân gian, nhà nước làm việc gì còn phải thông báo trước. Sao ngài khi không bắt tôi đột ngột như thế này, thử hỏi làm sao tu cho kịp?

- Ngươi có thấy mấy người già, người bệnh, người chết không?

- Thưa có.

- Đó là những thông điệp mà ta đã gởi đến. Ngươi phải biết rằng ai ai cũng phải chết, tại sao ngươi không lo tu?

Lúc bấy giờ, có một hương hồn trẻ tuổi ở bên cạnh phản đối Diêm vương:

- Tôi phản đối! Ngài không công bằng. Đối với ông cụ này, thì ngài đã gởi cho ông ta không biết là bao nhiêu lá thư thông báo. Song tại sao đối với tôi, ngài chưa hề gởi thư thông báo mà đã gọi tôi đến đây rồi?

Diêm vương cười nói:

- Ta cũng đã có thư gởi cho ngươi.

Cậu thanh niên hoài nghi hỏi:

- Thư ở đâu?

Diêm vương nói:

- Có! Đứa bé mới lên ba, con người hàng xóm cạnh nhà ngươi bị chết đuối. Tuổi nó còn nhỏ hơn ngươi mà chết yểu, huống chi là ngươi lớn tuổi hơn nó, lẽ nào lại không chết sao? Đó là ta đã viết thư gởi cho ngươi, chỉ vì ngươi không biết xem, hoặc xem mà không hiểu đấy thôi.

Qua câu chuyện trên, chúng ta có thể rút ra bài học: Mạng sống của con người là vô thường ngắn ngủi, như ngọn đèn treo trước gió, không biết chừng nào nó tắt. Do đó, người xưa có nói:

Chớ bảo đến già mới tu Phật

Mồ hoang cũng lắm kẻ đầu xanh.

Là phàm phu ai cũng chấp thân này là thật, cuộc đời là hạnh phúc, Nhưng thật ra, đời người như ảo ảnh phù du, tuổi xuân thấy đó rồi chợt mất, buồn vô cùng và khổ cũng vô cùng.

Đức Phật vì hiểu cuộc đời ngắn ngủi, kiếp phù sinh tạm bợ mong manh nên đã quay mặt với địa vị cao quý, giàu có, vinh hiển, mà độc hành vào núi thẳm, rừng sâu tìm chân lý. Bao ngày tháng miệt mài tu tập, cuối cùng giác ngộ, đem đạo mầu soi tỏ cuộc đời. Giáo lý ngài dạy rất nhiều, trong đó "vô thường" là căn bản.

Vô thường là không thường

Không an trụ nhất định

Thường biến chuyển đổi dời

Liên tục theo thời gian.

Vạn pháp là vô thường, sanh tử là đau khổ. Ấy vậy, chúng sanh vẫn không thức tỉnh, lấy khổ làm vui, cam lòng nhận chịu đáng xót thương!

Ta bà là cõi đầy dẫy khổ đau, uế trược. Đối đãi với Ta bà là cảnh giới Cực lạc chơn thường, an vui, thù thắng. Trong kinh A Di Đà, Phật dạy ngài Xá Lợi Phất: "Cõi đó vì sao gọi là Cực lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó thuần vui không có điều khổ". Hiểu biết như vậy, chúng ta hãy sớm thức tỉnh, nỗ lực tu tập, tích lũy cho mình có đầy đủ phước, trí, từ bi. Đây là ba món tư lương quý báu cho hành giả sáng suốt giã từ quán trọ Ta bà, mà hướng về cố hương Cực lạc.

Thấu biết được như vậy

Tự chuẩn bị hành lý

Như phước, trí, từ bi

Gói gọn vào nghiệp thức.

Khi thần chết hiện đến

Ta bình thản ra đi

Với một chiếc va ly

Đựng toàn đồ trân báu.

Phước đức dụ cho đôi chân vững, trí tuệ dụ cho đôi mắt sáng, từ bi dụ cho bàn tay khéo. Có đôi chân vững, đôi mắt sáng và bàn tay khéo léo, hành giả mới vững chắc mà bước đi, không bị sa hầm, sụp hố, vượt qua mọi chướng ngại, đến bờ giác ngộ.

Chúng ta tu phước thì được phước, tu huệ có trí huệ, tu tập tâm từ bi để có tình thương cao thượng đối với tất cả chúng sanh. Phước trí viên mãn là trang nghiêm cõi Phật.

I. PHƯỚC ĐỨC:

Trên đời này ai cũng mong muốn mình có phước. Người có phước thì cuộc sống sẽ an ổn, no ấm, có niềm vui hơn người thiếu phước. Muốn có phước thì phải tu phước. Phước đức có được là do mình gieo trồng căn lành qua việc hành hạnh bố thí, làm lợi ích chúng sanh.

Chúng ta có thể làm phước không tốn tiền, mà có kết quả liền ngay trong hiện tại qua bốn cách sau:

Bố thí dung nhan:

Nghĩa là nên hiến tặng cho nhau nụ cười thông cảm và gương mặt vui. Người đời thường nói: "Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ". Vì thế, từ nụ cười hoan hỷ biểu hiện cho sự hòa thuận kiến tạo niềm tin, nghị lực sống tốt đẹp cho nhân loại.

Thuở xưa, vào đời nhà Lương nước Trung Quốc, có ngài Trường Đình Tử quê ở Minh Châu, Phụng Hóa, trên môi lúc nào cũng có nụ cười an nhiên. Hình ảnh ngài thong dong thanh thoát, đi đâu cũng vác cái đãy theo bên mình, nên mọi người thường gọi ngài là "Bố Đại Hòa Thượng".

Khi được hỏi về đại ý Phật pháp, ngài không nói gì, chỉ bỏ cái đãy xuống, ngụ ý nhắc nhở con người hãy đặt gánh nặng xuống. Năm uẩn là gánh nặng. Người sống nô lệ cho thân tâm thì như đang mang gánh nặng vậy. Sống với thân tâm mà biết rõ thân tâm, chủ động được thân tâm, là đã dặt gánh nặng xuống, tức an lạc không khổ.

Ngài có cái bụng lớn, biểu trưng cho sự bao dung hỷ xả. Nhờ cái tâm rỗng rang nên miệng luôn nở nụ cười tươi vui.

Là con Phật cần xả bỏ mọi ưu tư, phiền muộn, nên quán triệt cõi đời là cõi tạm, mạng người vốn như bọt sóng, để bao dung, hỷ xả. Có như thế mới nở được nụ cười an lạc, hồn nhiên, thanh thản giữa cuộc đời.

Cười là một pháp bố thí. Bất cứ ai cũng có thể thực hành để đem lại niềm vui, tăng trưởng phước đức cho mình và cho mọi người.

Bố thí thân hành:

Đem sức lực của mình giúp đỡ chúng sanh được lợi ích an vui, hay quên thân mình để cứu vớt kẻ khác thoát khỏi sự nguy nan. Dẫn một người đi qua đường, hiến máu cho bệnh nhân, hoặc thấy người bị chìm ta nhảy xuống cứu vớt v.v... là những việc bố thì thân hành.

Thuở xưa có một cặp vợ chồng rất nghèo khổ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thường bị đói lạnh bức bách, mà không thể làm được gì khác hơn để thay đổi tình thế. Tuy họ đi khắp nơi tìm việc, nhưng việc làm kiếm khó quá. Trở về căn nhà rách nát của mình, hai vợ chồng than vắn thở dài cùng nhau. Nhìn thấy thiên hạ giàu có dư giả, còn mình thì cùng khốn như thế, người chồng tên Kệ Di La, ngồi trước mặt vợ nói rằng:

- Đức Phật có nói: "Người ta nghèo khổ là vì kiếp trước bỏn sẻn, tham lam". Tuy giàu có, gia tài vạn ức mà nếu không tu phúc, không bố thí, thì kiếp sau chắc chắn không thể sống sung túc được.

Kệ Di La ngưng một chút rồi lại nói tiếp:

- Than ôi! Chúng ta kiếp trước không biết gieo trồng phúc điền, nên kiếp này mới khốn cùng như vầy.

Vợ ông nghe thế, vọt miệng nói:

- Thế thì bây giờ mình tu phước đi! Đời này mình không giàu có, thì đừng hy vọng đời sau khá hơn!

- Đúng vậy! Tôi cũng nghĩ như bà, nhưng hiện tại ba bữa ăn một ngày mình còn kiếm không ra, lấy tiền đâu mà bố thí cúng dường đây?

Người vợ nhanh trí nghĩ ra ngay một giải pháp, nói với chồng rằng:

- Đừng lo! Ông hãy đem tôi đi bán làm đầy tớ cho người ta, lấy số tiền đó làm phúc, khó gì.

Bà thấy giải pháp của mình rất hay, nhưng Kệ Di La lắc đầu:

- Không! Không thể làm như thế được! Tôi đem bà đi bán cho người ta rồi, làm sao tôi sống nổi đây!

- Nếu ông không bỏ tôi được, thì cả hai chúng ta đem thân đi bán để lấy tiền làm Phật sự, thì việc thiện đó lại còn giá trị chứ sao!

Hai vợ chồng bàn tính và quyết định đến nhà một phú ông, kể rõ ngọn nguồn. Phú ông ưng thuận mua họ, hai bên thỏa thuận giá cả, kỳ hạn cho họ bảy ngày để lập hội trai tăng cúng dường. Sau bảy ngày, hai vợ chồng sẽ trở lại nhà phú ông làm đầy tớ trả nợ suốt đời.

Cầm số tiền trong tay, hai vợ chồng Kệ Di La mừng rỡ vô cùng, chạy mau đến chùa lập hội trai tăng cúng dường. Hai người quên hết tất cả mọi khổ sở, hết lòng, hết dạ phụng sự đại chúng. Họ cảm thấy rằng đó là những ngày quý giá nhất đời họ, và cũng là những ngày cuối cùng thuộc về họ. Trong suốt bảy ngày ấy, họ muốn thay đổi vận mệnh của mình, và tu nhân phước đức chuẩn bị cho đời vị lai. Sáu ngày trôi qua, đến ngày cuối cùng, bỗng nhiên nhà vua cũng đến chùa mở hội trai tăng. Theo tục lệ thì khi vua đến, bất kỳ người nào cũng phải nhường chỗ cho vua cúng dường trước, nhưng Kệ Di La nhất định không chịu nhường. Nhà vua không bằng lòng, cho triệu Kệ Di La đến. Trước mặt vua, Kệ Di La thật tình tâu rằng:

- Tâu bệ hạ, xin bệ hạ tha lỗi cho hạ thần vô lễ. Chỉ vì hôm nay là ngày cuối cùng thuộc về hạ thần, ngày mai hạ thần thuộc về người khác mất rồi. Cho nên hạ thần không thể nhường cho bệ hạ ngày cuối cùng của hạ thần để làm việc trai tăng.

Nhà vua nghe thế, bèn hỏi Kệ Di La: Nhân duyên gì lại đến đây làm lễ trai tăng cúng dường, và nhất là tại sao bắt đầu từ ngày hôm sau lại thuộc về người khác?

Kệ Di La kể hết mọi sự việc cho vua nghe, vua cảm thấy tội nghiệp họ và khen ngợi tinh thần không tiếc tiền, không tiếc thân, không tiếc mạng sống của họ. Vì vậy mà ban cho họ rất nhiều quần áo, của cải quý giá, và còn cấp cho đất để họ kiếm sống.

Nhân quả luôn công bằng. Tùy theo phát tâm bố thí cúng dường mà vợ chồng Kệ Di La đã nhận được một quả báo tương ứng.

Người thường hay dùng sức lực để làm lụng, giúp đỡ cho kẻ khác, quả báo trở lại là sức mạnh sung mãn. Và với sức mạnh này họ đã vươn tới thành công.

Ngày ngày cố gắng thực hành

Làm phước, làm đức để mà hộ thân

Phước đức tránh được tai ương

Đem điều may mắn, an khương mạnh lành.

Bố thí lời nói:

Trong quan hệ giao tiếp của con người, hạnh phúc đến với nhau từ những lời nói lễ độ, tôn trọng, nhu hòa, khả ái. Người có được ái ngữ như thế tức là đã có một lợi khí ban phát hạnh phúc cho mọi người chung quanh.

Trong tâm tư của con người, ai cũng thích sự dịu dàng, tôn trọng. Chúng ta hãy đem những lời nói tốt lành dành cho nhau, đừng dùng lời thô lỗ, cộc cằn, hung ác, gây đau khổ cho người. Sự đau khổ của người hiện tại, sẽ biến thành đau khổ cho chính mình ở mai sau.

Thuở xưa, có một đoàn lái buôn năm trăm người, lên đường đến một nước khác mua bán, họ có đem theo một con chó trắng. Giữa đường nghỉ ngơi, con chó ăn vụng thịt, người lái buôn tức giận đã chặt bốn chân của nó, quăng nó vào trong hầm rồi đi. Bấy giờ ngài Xá Lợi Phất dùng thiên nhãn xa, thấy thân chó rên xiết, đói khát, khốn khổ, quằn quại sắp chết, ngài bèn bưng bát cơm bay đến chỗ nó, dùng lòng từ bi mà bố thí cho ăn. Sau khi ăn xong, chó rất mừng, ngài lại vì nó mà thuyết pháp cho nghe.

Qua bảy ngày, chó kia thoát kiếp, sinh vào nước Xá Vệ trong nhà người Bà la môn, được đặt tên là Quân Đề. Đến bảy tuổi, ngài Xá Lợi Phất độ cho xuất gia. Sau này chứng quả A la hán, đủ pháp thần thông, tự biết kiếp trước mình là chó đói, nhờ ngài Xá Lợi Phất hóa độ mới thành tựu như ngày nay.

Các đệ tử bèn bạch hỏi đức Phật nguyên do Quân Đề. Ngài dạy rằng:

- Về đời quá khứ, thuở đức Phật Ca Diếp, có một vị tỳ kheo trẻ tuổi thấy vị tỳ kheo già tụng kinh tiếng ồ ề, lại ỷ mình tiếng tốt, nên thường chê bai vị tỳ kheo già tụng kinh như tiếng chó sủa. Không ngờ vị tỳ kheo già đó đã chứng nghiệm quả vị A la hán rồi.

Vị tỳ kheo trẻ này, sau khi biết được vị thầy tỳ kheo già chứng thánh quả, liền xin sám hối. Thầy tỳ kheo già hoan hỷ tha thứ. Song do lời nói ác nên vị tỳ kheo trẻ năm trăm đời phải chịu thân chó như thế, nhờ biết sám hối mà khỏi tội đọa địa ngục.

Ôi! Một lời nói dữ mắc hại đến thế! Chúng ta nên lấy bài học này để răn đe miệng lưỡi. Phải cẩn thận khi nói. Nên nói lời hòa nhã, vui tươi, đạo đức, hiền từ khiến cho người yêu thương nhau. Lời nói ngay thẳng, sáng suốt, rõ ràng, hợp chánh pháp, sẽ cảm hóa con người tăng trưởng lòng kinh tin Tam Bảo, tin hiểu lý nhân quả, xa lánh điều ác, thì lời nói đó quý giá vô cùng. Nếu lời nói của ta không đem lại sự lợi ích cho mình, và tha nhân thì tốt hơn nên im lặng.

Miệng ta là cánh hoa sen

Một khi hé nở một phen thơm lừng

Tiếng ta là gió mùa xuân

Một cơn thổi nhẹ muôn dân mát lòng.

Bố thí tâm ý:

Phàm là chúng sanh đều bị định luật vô thường chi phối. Mình và mọi người không biết chết lúc nào. Vì vậy, hãy sống có đạo đức, hãy đối xử với nhau bằng tâm ý tốt đẹp, để đem lại niềm vui, hạnh phúc cho nhau.

Trong cuộc sống, tiếp cận với mọi người, lúc nào chúng ta cũng nghĩ tốt về người, xem họ là Bồ tát, là ân nhân. Dù người có xấu ác thì đó là việc của người. Còn nghĩ tốt về người, đó là việc của ta. Họ xấu ác thì quả báo họ gánh, ta nghĩ tốt về người thì phước đức ta hưởng.

Mỗi lần giận người là ta khổ, ghét người là ta ác, nghĩ xấu về người là ta độc, đó là nhân tội lỗi. Chúng ta phải có tâm thương yêu tất cả mọi người, gặp ai mình cũng khiêm hạ, kính trọng, tận tình giúp đỡ một cách bình đẳng, vô tư. Chính tâm tốt đẹp này giúp hành giả diệt trừ được vô lượng phiền não, sanh ra vô lượng công đức.

Trong đời người, mình lo cho sự sống bao nhiêu thì cũng nên nghĩ đến cái chết bấy nhiêu, mà cố gắng tu hành. Tu là sửa đổi những thói hư tật xấu, chuyển hóa nghiệp chướng. Tu từ thân, khẩu, ý để cho thân tâm an tịnh, xa lìa phiền não, được an vui giải thoát.

Giữ miệng, thu nhiếp ý

Thân không phạm lỗi chi

Ai làm được như vậy

Sanh tử chẳng còn gì.

(Trích kinh Pháp Cú, Thí dụ)

Ngoài bốn hình thức bố thí trên, còn có ba loại bố thí khác nữa: Tài thí, pháp thì và vô úy thí.

(1) Tài thí: Là đem tiền của, vật chất để giúp đỡ người trong lúc họ còn đang thiếu thốn.

(2) Pháp thí: Là dùng nhiều phương tiện để truyền bá chánh pháp, giáo dưỡng chúng sanh chuyển mê thành giác. Như ấn tống kinh sách cho mọi người xem, hiểu và ứng dụng, thực hành. Hành giả đã thực hiện một việc làm hàm tàng đủ cả ba cách bố thí:

a. Tài thí: Đem tiền bạc để ấn tống kinh.

b. Pháp thí: Người đọc quyển kinh hiểu được lời Phật dạy, ứng dụng tu hành, có nếp sống đạo đức, vừa lợi ích cho bản thân đồng thời sống hữu ích với mọi người.

c. Vô úy thí: Đọc một quyển kinh, người đọc khai mở tầm nhìn hiểu biết chân lý, vơi bớt cố chấp, lo sợ, nội tâm bình an, sự sống cởi mở.

Những lời nói chân thành, hữu ích, đem lại lợi lạc cho người nghe cũng là pháp thí. Pháp thí có công dụng rất lớn, chỉ có pháp thí mới chỉ dẫn chúng sanh đi đến con đường giác ngộ.

Pháp thí dứt phiền não

Pháp thí phá ngu si

Pháp thì khai trí tuệ

Pháp thí đức không lường.

(3) Vô úy thí: Là đem tình thương, sự vui vẻ đến cho người làm cho con người được yên tâm, không còn lo sợ. Hoặc an ủi khuyên dạy cho người bớt đau khổ, an ổn, tăng thêm dũng khí, niềm tin và nghị lực sống.

Nở một nụ cười là vô úy thí. Ví như: khi quý vị bị bệnh phải đi đến bác sĩ, sau khi khám xong, chỉ cần bác sĩ nở một nụ cười sẽ khiến cho trạng thái tâm lý lo sợ, hồi hộp của bệnh nhân tan biến ngay. Nếu bác sĩ mỉm cười an ủi, khích lệ, chắc chắn hiệu quả trị liệu tốt hơn.

Hoặc có người sợ chết, ta bảo họ đừng sợ, cứ lo niệm Phật, ăn chay, làm phước, đến khi chết sẽ về Cực lạc. Họ tin và nghe theo thì không còn sợ chết, đó là vô úy thí.

Những hạnh bố thí nói trên là cách tu phước, buông xả được tâm tham lam, bỏn sẻn, mở rộng lòng yêu thương, trau dồi nhân cách cao đẹp.

Bố thí là gầy dựng một kho tàng phước đức, khiến tạo tương lai tốt đẹp cho mỗi người. Bố thí để giữ gìn công đức, tiêu trừ sự nghèo khổ và đóng cửa ba đường ác là: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Người biết bố thí tâm hồn thường an vui, vì thấy mình đã gieo được phước lành, khi gần chết tâm không sợ hãi.

Phát tâm nào bố thì, tùy nhân quả đó cảm

Như vì vui mà thí, sau ắt đặng an vui.

Bố thí là con đường trong sạch mà tất cả Thánh nhân đèu đã đi qua, là một thiện nghiệp sẽ cho quả báo tốt, là nhân tố tốt đẹp để thành tựu quả vị Niết bàn cao thượng.

II. TRÍ TUỆ

Trí tuệ là không chấp, tự giải phóng mình ra khỏi những ràng buộc khổ đau của cuộc đời.

Kinh điển là phương tiện giúp hành giả tỏ ngộ trí tuệ. Muốncó trí tuệ phải thực tập sống theo lời kinh dạy. hành giả phải nỗ lực quán chiếu về thật tướng của vạn pháp là vô thường, vô ngã và duyên sanh như huyễn. Thân tâm, cảnh vật đều là giả tạm, đời chỉ là cõi tạm, không có gì là thật nên ta đừng cố chấp. Không chấp là có trí tuệ.

Chúng ta có bệnh cố chấp rất nặng. Bên ngoài thì chấp người, nơi mình thì chấp ta. Chấp ta, chấp người, chấp phải, chấp quấy, chấp hơn, chấp thua, tất cả các thứ chấp đều là vô minh, và chính là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Vì còn chấp là còn khổ, nên người biết tu phải xả cố chấp.

Chấp nhiều khổ nhiều

Chấp ít khổ ít

Không chấp không khổ!

Ngày xưa, một hôm đức Thế Tôn đi khất thực qua vùng của Bà la môn. Có một ông Bà la môn thấy ngài đi trước, ông lẽo đẽo theo sau kêu tên ngài chửi. Bình thản trước những lời chửi mắng, Phật cứ chậm rãi đi một cách tự nhiên, không trả lời. Hồi lâu bực quá, ông chạy tới trước hỏi:

- Cồ Đàm có điếc không?

- Không.

- Sao tôi chửi ông mà ông không trả lời?

Phật liền trải tọa cụ ngồi xuống nói bài kệ:

Kẻ hơn thì thêm oán

Người thua ngủ chẳng yên

Hơn thua, hai đều xả

Ấy được an ổn ngủ.

Như vậy người chấp hơn, chấp thua đều khổ hết. Thua khổ vì nhục nhã, hơn thắng thì mừng, nhưng gây ra oán thù. Nên hơn thua đều xả thì được an ổn ngủ. Chẳng những hơn thua, mà chấp ngã, chấp nhân đều xả hết thì đó là người an ổn bậc nhất.

Người tu Phật là người đi tìm chân lý, chiêm nghiệm hiện thực. Nếu hiểu sâu xa cùng tột đạo lý của Phật thì: Đến với thân này "được" cũng không mừng, "mất" cũng không buồn, vì nó là tạm bợ giả dối do duyên hợp tạm có. Trong kinh Bát Nhã, Phật dạy: "Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách". Nghĩa là quan sát thấy năm uẩn không thật, duyên hợp, hư ảo liền qua hết khổ nạn. Đó là trí tuệ.

Vì vậy, hành giả phải có trí tuệ. Nhờ có trí tuệ nên thấy đúng như thật, không còn lầm lẫn say mê. Không chạy theo những ảo tưởng giả dối của vật chất thế gian, xả bỏ hết những phiền lụy trói buộc, đau khổ của cuộc đời thì sẽ được bình an giải thoát.

Diệu dụng trí Bát Nhã

Như thuyền đưa chúng sanh

Từ bờ mê phiền trược

Đến bến bờ giải thoát.

III. TÂM TỪ BI

Trí tuệ con người phải đi cùng với lòng từ bi mới có thể phục vụ lợi ích cho nhân loại.

Từ là lòng thương yêu tất cả mọi loài chúng sanh. Bi là thương xót khi thấy chúng sanh đau khổ.

Tâm từ bi là lòng thương yêu bao la, không còn ngã nhơn. Lòng thương yêu đem đến cho tất cả chúng sanh sự sống bình an hạnh phúc.

Tu tập tâm từ bi là ban rải tình thương cho tất cả chúng sanh, là bước đầu của hạnh Bồ tát lợi tha. Hành giả thực hiện tâm từ bi thông qua hai pháp là: Bố thí và thiền định.

1. Bố thí:

Bố nghĩa là cùng khắp

Thí là dâng tặng cúng

Dâng tặng cúng cùng khắp

Gọi là hạnh bố thí.

Bố thí là cho, tặng, biếu, dâng, cúng dường, là một hành động tốt đẹp, có ý nghĩa tốt nhất, mà con người có thể đối xử với con người. Bố thí cho người khác tức là làm lợi ích cho chính mình. Chư Phật, Bồ tát có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp là do nhiều đời, nhiều kiếp tu hạnh bố thí mà được.

Hạnh đầu của Bồ tát

Là hạnh bố thí.

Tâm bồ đề, tâm từ bi của chúng ta phải được nuôi dưỡng từ hành động bố thí. Người có tâm hồn cao cả mới có thể san sẻ (bố thí) và ngược lại. Người có san sẻ (bố thí) mới khiến tâm hồn cao thượng hơn. Trong truyện cổ Phật giáo có câu chuyện sau:

Chu Thừa Ân ở Lạc Dương, Hà Nam là người phú quý, nhân hậu. Một buổi sáng, đang đi tản bộ thì nghe ở dưới cây cầu có tiếng khóc thê thảm. Thì ra, có một đôi vợ chồng và một đứa con nhỏ bị chủ nợ bức bách, sắp trầm mình tự vận, trước lúc sắp chết, họ cùng ôm nhau khóc thảm. Ông Chu thấy vậy, bèn nói: "Ta sẽ giúp các ngươi trả nợ". Thế rồi, ông cùng đi về phía nhà của vợ chồng kia, thấy bọn người lưu manh đang ngồi trong nhà. Chu phú ông hỏi: "Hai vợ chồng người này thiếu của các ngươi bao nhiêu?" Bọn lưu manh nói: "Một trăm lượng bạc, có giấy mượn nợ làm bằng chứng!"

Chu phú ông liền xuất ngân phiếu một trăm lượng đổi lấy tờ giấy vay nợ, rồi đốt cháy ngay trên bàn. Đám lưu manh được tiền bỏ đi. Đôi vợ chồng này xin làm nô bộc để đền ơn. Chu phú ông nói: "Khi sanh ra không mang một đồng, chết đi cũng chẳng đem theo được một cắc, cứ xem như đó là tôi trả nợ kiếp trước của tôi vậy!" Nói xong, cười hoan hỷ rồi trở về nhà.

Chu phú ông giàu có, lại thích điều nhân nghĩa, bố thí với dụng tâm chân chánh, làm việc thiện, nhưng tâm không mong cầu người báo đáp, thật là tấm lòng đại bi, đáng cho người đời kính phục.

Phật dạy: "Vật tuy khinh, mà trọng ở chỗ tâm chí thành". Khi bố thí một vật gì dù nhỏ hay lớn, hãy gói kèm tâm kính trọng và lòng thương của mình vào đó. Thí dụ, với tấm lòng thương yêu cầm một quyển sách tặng cho người, cầu mong người hiểu được quyển sách này, mà sáng suốt bình an, không còn đau khổ.

Do đó, khi bố thí vì lòng từ sẽ làm cho chúng sanh an lạc, mà mình không mong cầu gì hết, cái tâm an vui đó nó rộng lớn như hư không, chẳng thể nào so lường được.

Và chính từ hành vi bố thí, tâm tham lam, bỏn sẻn được giải trừ, tâm từ bi được tăng trưởng, tâm hỷ xả được thăng hoa. Những tâm hạnh cao cả ấy là điều kiện để đưa người vào Thánh vị.

2. Thiền định: Ngoài hành vi bố thí để tập hạnh từ bi, chúng ta còn phải tu tập thiền định, rải tâm từ đến với mọi loài chúng sanh.

Thiền quán rải tâm từ là vũ khí đặc biệt có hiệu quả chống lại sân hận, oán thù. Trong thiền quán, chúng ta trải rộng tâm từ đến với mọi người bằng cách nhủ thầm câu nguyện: "Con nguyện mến thương muôn loài". Thực hành từ bi quán, tình thương và lòng bi mẫn sẽ chớm nở. Do có tập, mà tình thương của mình đối với mọi người ngày thêm tăng trưởng.

"Nơi nào có tình thương, nơi đó không còn hận thù. Nơi nào có tình thương, nơi đó không có chiến tranh. Nơi nào có tình thương, nơi đó có hạnh phúc".

Chính đời sống đức Phật là một minh chứng về tình thương và lòng bi mẫn. Ngài từ bỏ cuộc sống trong cung vàng điện ngọc, đi tìm chân lý để giải thoát tất cả đau khổ cho thế gian. Khi giác ngộ, ngài truyền dạy chánh pháp cho tất cả chúng sanh đương thời, mong muốn tất cả thể nhập chân hạnh phúc, đạt Niết bàn an lạc, và dặn dò các đệ tử truyền thừa giáo pháp hóa độ chúng sanh mai sau. Ấn chứng "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành". Tất cả đều có thể đạt được trong kiếp sống này bằng cách thanh tịnh hóa tâm thức.

Đức Phật thường xuyên dạy các đệ tử ban rãi lòng từ bi. Ngài yêu cầu họ hãy để tâm từ bi "lan rộng, tỏa khắp vô biên, tràn ngập mọi nơi trên thế gian này". Ngài dạy cho họ dù ở hoàn cảnh nào, đi, đứng, ngồi, nằm phải luôn khởi tâm thương yêu tất cả chúng sanh. Trong giáo pháp của ngài, không hề tìm thấy một mảy may thù hận, hoặc một tâm nguyện xấu. Tình thương như thế thật cao quý vô cùng!

Tình thương trải rộng được thể hiện qua: lời nói, hành động và tâm hồn.

- Tình thương thể hiện bằng lời nói là dùng lời ái ngữ, nói những điều thiện, đem lại sự lợi ích, sự an lạc cho con người và mọi loài chúng sanh.

- Tình thương thể hiện bằng hành động là thân làm việc giúp đỡ người khác không kể nặng, nhẹ, những nhu cầu vật chất, tinh thần v.v...

- Tình thương thể hiện nơi tâm hồn là thấy người khổ sinh tâm thương xót, lấy tình thương xóa bỏ hận thù, lấy tình thương tạo sự ấm áp, hạnh phúc giữa mình cùng mọi người.

Có sáu đối tượng để hành giả trải rộng tình thương:

(1) Trải rộng tình thương đến với những người cùng sống quan mình: Như người thân trong gia đình, họ hàng, thân tộc của mình, bạn bè và những người vừa quen biết, chúng ta đều thương mến, xử sự với tất cả tình thương yêu, kính trọng.

(2) Trải rộng tình thương đến với người bệnh: Nguyện cầu cho họ nghiệp chướng sớm tiêu trừ, thân tâm an lạc.

(3) Trải rộng tình thương đến với người nghèo khổ: Nguyện cầu chọ họ sớm có nhân duyên gặp chánh pháp, năng tu phước huệ, bán sạch cái nghèo, thân tâm hết khổ.

(4) Trải rộng tình thương đến với những người thù nghịch, những người có thành kiến với ta: Thông thường hành giả sẽ không có cảm tình với những kẻ làm tổn hại đến quyền lợi, hay "cái tôi" của mình, thế nên thoạt đầu hơi khó trải tình thương đến với họ. Nhưng sau giây phút tỉnh giác về lẽ thật cuộc sống, về lý vô thường của đời người, niềm thù ghét sẽ tan biến, nhường chỗ cho tình thương ngự trị.

(5) Trải rộng tình thương đến với chúng sanh ở thế giới vô minh: Những chúng sanh bất hạnh này khi nhận được luồng năng lực của tâm ta, họ sẽ bình an không còn đau khổ.

(6) Trải rộng tình thương đến với tất cả muôn loài vạn vật, kể cả loài vô tình: Bởi nơi nào có tình thương thì sẽ tràn đầy sinh khí, cây cối tươi tốt, muôn loài an ổn.

Có một câu chuyện xảy ra ngay thời của đức Phật. Vào mùa an cư năm đó, năm trăm tỳ kheo tọa thiền trong rừng bị nhóm chư Thiên hiện ra những hình ảnh ghê sợ, âm thanh rùng rợn và mùi tanh hôi rất khó chịu, đe dọa chư tỳ kheo, làm cho tâm một số tỳ kheo bị xao động.

Các ngài trở về bạch đức Thế Tôn rõ những hiện tượng đã xảy ra trong khu rừng núi ấy, là nguyên nhân chư tỳ kheo không thể an cư suốt ba tháng mùa mưa. Đức Thế Tôn khuyên họ nên quay trở lại khu rừng, và trì tụng kinh Thương Yêu, thực tập từ bi quán.

Chư tỳ kheo cùng nhau quay trở lại khu rừng cũ, thực hành những lời giáo huấn của đức Thế Tôn. Nhóm chư Thiên trong rừng cảm thấy mát mẻ, an lạc do năng lực tâm từ của chư tỳ kheo nên vô cùng hoan hỷ, hộ trì chư tỳ kheo sống yên ổn để tiến tu.

Sau ba tháng tu tập trong rừng, năm trăm tỳ kheo đều đắc quả A la hán. Lòng từ sẽ cảm ứng sự hỗ trợ của chư Thiên, cho nên công hạnh trải rộng tình thương là chất liệu cần thiết của người con Phật. Hành giả hãy trải rộng tình thương đến muôn loài vạn vật, kể cả loài vô tình bởi nơi nào có tình thương thì nơi đó có sinh khí ấm áp.

Vào thời đức Phật, có vị tỳ kheo vào một khu rừng để thiền quán, thường niệm rải tâm từ bi. Rồi một hôm, ngài quyết định rằng: "Sáng ngày mai, ta sẽ rời khỏi nơi này đi đến một nơi khác".

Khi nằm ngủ, ngài nghe ở cội cây có tiếng khóc, ngài bèn hỏi rằng:

- Cớ sao nhà ngươi khóc?

- Bởi vì ngài sắp đi khỏi đây.

- Vậy là ta sống ở đây có lợi lạc gì cho ngươi?

- Kính bạch Đại đức! Thời gian trước đây khi ngài chưa đến sống nơi này, các thần cây thường giận hờn, cãi vã nhau, sống với nhau không được an lạc. Nhưng kể từ khi ngài đến, chúng tôi cảm nhận được tâm từ của ngài nên tất cả đều cảm thấy mát mẻ, sống với nhau rất là hòa thuận, thương yêu và yên ổn. Nếu ngày mai, ngài rời khỏi nơi này, nhóm thần cây ấy sẽ phát sinh giận hờn, gây gổ, cãi vã nhau trở lại như trước thì phiền não lắm! Con sợ cảnh khổ ấy tái diễn, nên con buồn, con khóc.

Đại đức an ủi rằng: "Nếu bần tăng sống ở nơi này đem lại sự lợi ích, sự an lạc cho các ngươi như vậy, bần tăng sẽ không đi nơi khác nữa".

Thầy tỳ kheo đã ở lại, tu tập thiền quán, trải rộng tình thương phủ trùm cây cỏ, thân tâm an lạc, chứng nghiệm thánh quả và thâu thần tịch diệt ngay tại trú xứ này.

Tất cả loài vô tình như cây cỏ đều có sự cảm thọ tuy còn rất yếu. Khi tiếp nhận được năng lực của tình thương, cỏ cây tự nhiên tươi tốt. Vì thế nên những nơi nào có người tu hành thanh tịnh, cây cối chung quanh nơi đó đơm hoa, kết trái xum xuê.

Người có tâm từ bi sống bằng trái tim tràn đầy tình thương. Một tình thương có lý trí soi sáng, rất bình đẳng, luôn vì người và tất cả chúng sanh.

Xin cho con mãi mãi

Lòng yêu thương không cùng

Trải thế giới tam thiên

Đến chúng sanh vô tận.

Đời người là một cuộc hành trình trong cõi Ta bà vô thường, mộng ảo. Vì nhận thức sai lầm, cho rằng mọi sự vật là thật có, nên khởi tâm tham luyến. Cái mà người đời yêu quý nhất là thân thể xinh đẹp, quan tâm nhất là tài sản dồi dào. Nhưng đến phút giã từ cuộc đời này, thân thể, tài sản, tất cả đều không mang theo được.

Những hành lý cồng kềnh

Như tiền bạc, nhà cửa

Để lại cho dương thế

Không đem được món gì.

Cái không thật mà chấp cho là thật, quả thật si mê. Thấy rõ thân là vô thường không thật là người có trí tuệ. Trực nhận rõ lẽ thật này thì ta còn gì phải tham nhiễm nơi thân, và mọi nhu cầu vật chất như tiền của, danh vọng, không còn có ý nghĩa gì đáng để bận lòng. Lúc sống không tham luyến thì lúc chết ra đi được nhẹ nhàng, thanh thản.

Bởi đức Phật đã thấu triệt về sự vô thường của kiếp sống con người ở trong cõi Ta bà, nên trong kinh Phật dạy: "Kiếp người ngắn ngủi, không biết chết giờ nào, ráng mà lo tu niệm. lợi dụng lúc còn mạnh khỏe, sáng suốt nỗ lực lập công, bồi đức, làm hành trang trên đường giải thoát".

Tất cả các pháp đều do tâm biến hiện. Ta bà hay Tịnh độ đều do tâm mà thành. Trên con đường tu tập hướng về thế giới Cực lạc, hành giả hãy nương theo lời Phật dạy, cố gắng tu tạo công đức, thường siêng năng tăng trưởng phước, trí và từ bi để loại dần những cấu uế nơi tâm thức, chuyển hóa nội tâm mê mờ, si dại thành chánh niệm tỉnh giác. Tâm chánh niệm tỉnh giác là Cực lạc. "Đừng chờ chết mới tìm về Cực lạc. Hãy kiến tạo Cực lạc hiện tiền qua trạng thái tâm tỉnh thức của hành giả".

 




Lương Hoàng Sám Pháp - Quyển 2
Ngày đăng tin: 13/03/2018
Lương Hoàng Sám Pháp - Quyển 1
Ngày đăng tin: 07/03/2018
Tịnh Độ Thập Nghi Luận
Ngày đăng tin: 21/02/2018
Nhẫn Thì An
Ngày đăng tin: 21/02/2018