Quay về trang chủ

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

CHÙA PHÁP THƯỜNG




NHẪN THÌ AN

Tỳ kheo Thích Thiện Pháp

“Nhẫn là thuyền vững chắc

Giúp ta vượt sóng gió.

Nhẫn là nước cam lồ

Rưới tắt lửa tham sân.

Nhẫn là vị thuốc hay

Cứu bệnh trong cơn nguy.

Nhẫn là tạng kho báu

Chứa giữ các công đức”.

Thái tử Tất Đạt Đa đã thành Phật cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm nhờ tu hạnh nhẫn nhục không chỉ trong một kiếp, mà còn trong vô số kiếp.

Điều đó cho thấy rằng đây là một pháp tu rất quan trọng cho những ai muốn vượt phàm nhập thánh, hay nói một cách rất đơn giản là xa lìa phiền não để được an lạc giải thoát.

Trong dòng đời, con người thường sống bằng sự tạo nghiệp nên dễ nóng nảy, buồn phiền, giận hờn, làm khổ lẫn nhau. Từ mê chấp sanh phiền não, rồi tham lam, ganh ghét là những nhân tố gây đau khổ cho con người. Vì vậy:

“Muốn an thì nhẫn, đã nhẫn thì an”

Không nhẫn thì không an. Vợ chồng có thương nhau cho lắm, có duyên nợ với nhau thật nhiều nhưng nếu không nhẫn thì cuộc sống gia đình vẫn bất hòa, không an.

Đối trị lòng sân hận

Phật dạy pháp nhẫn nhục

Một pháp môn vi diệu

Tận diệt sự hận thù.

Trên đời này do không nhẫn, do hận thù mà con người sát phạt lẫn nhau ghê gớm, để rồi con người làm khổ con người.

Hãy khảo sát về pháp nhẫn để biết đường tu.

Tu là gì?

Tu là sửa đổi, tu là chuyển hóa nghiệp chướng. Gia đình mà lộn xộn, không đầm ấm, không có niềm vui là gia đình đầy nghiệp chướng. Con người sống không có niềm vui, không yên ổn là con người đầy nghiệp chướng. Có “an” là nhẹ nghiệp, không an là nặng nghiệp.

Muốn an phải hóa giải nghiệp, hóa giải tâm giận hờn, tâm hận thù, tâm ác nơi lòng ta. Người ta nói nặng mình, nếu mình đừng cố chấp, đừng hận thù thì tâm an, sẽ không gây tội lỗi. Nhẫn là điều quan trọng để tâm hồn và cuộc sống của chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, bình an. Nhẫn nói cho đủ là an nhẫn.

Nhẫn nhục hay an nhẫn

Là chịu đựng là chịu khó

Gặp khó khăn chướng ngại

Không than oán, phiền não.

Không có gì an bằng nhẫn, không có gì đẹp bằng đạo đức. “Nhẫn nhục là nhân cách sống đạo đức cao thượng, đem đến sự bình yên và hạnh phúc cho mỗi con người”.

Tại sao gọi là nhẫn nhục? Thế nào là nhẫn mà có nhục? Nhẫn mà không có nhục?

Phần đông con người sống bằng tâm phàm nên lấy ngũ dục, lấy danh vọng, lấy lợi dưỡng làm trọng. Do chấp thật có ta, nên kẹt về danh, về lợi. Mỗi lần nhẫn cảm thấy như có nhục, cái danh càng lớn thì cảm thấy nhục nhiều hơn, tức nhiều hơn. Từ đó hận thù nhiều hơn, trả đũa nhiều hơn, tội lỗi theo đó cũng nhiều hơn.

Nhẫn mà không nhục là do có trí tuệ nên không thấy có tôi và cái của tôi, nên khi nhẫn thì tâm vẫn bình thường, phiền não chẳng sanh. Quán xét kỹ thân và ý ta thấy rõ:

Không bao lâu thân này,

Sẽ nằm dài trên đất,

Bị vứt bỏ vô thức,

Như khúc cây vô dụng.

Cái suy nghĩ cũng đâu thật là tôi, vì nó khi có khi không, lúc vầy lúc khác, không chân thật thường còn.

Căn trần thức duyên hợp

Ý tưởng liền sanh khởi

Tâm vô thường xuất hiện

Chẳng phải thật tâm mình.

Do thấy có tôi mà có nhục, hãy nhìn vào lẽ thật, không thấy có mình thì ai nhục đây. Có những chuyện thường xảy đến với chúng ta trong đời sống hàng ngày, vậy ta nên xử trí ra sao? Chúng tôi đơn cử một câu chuyện nhỏ sau đây:

Một hôm, một ông nọ gặp người bạn và nói:

“Hôm qua con nhỏ đó dữ quá! Nó chửi anh ghê thật!”

Ông bạn đáp: “Ồ! nó chửi người nào chứ có chửi tôi đâu”.

Nó kêu tên anh thiệt mà?!
À, chắc người nào đó trùng tên với tôi.
Tôi nghe nó chửi anh rõ ràng mà!

Ông bạn mỉm cười đáp rằng: “Thân này mẹ tôi sanh ra, tên này của ba mẹ tôi đặt, không có cái gì là thật của tôi. Cái thân này nó đâu thật là của tôi. Còn cái tâm suy nghĩ kia, nó cũng là vọng tưởng điên đảo, khi vầy khi khác thì nó đâu phải thật của tôi!”

Do thấy thật của tôi nên nhẫn mà có nhục. Muốn nhẫn không mà không nhục thì đừng thấy có tôi và của tôi.

Người ta đang chĩa mũi tên bắn mình, thấy không chịu nỗi “cần né đòn” để bình yên là người khôn. Nếu không thấy có ta, mũi tên bắn vào đâu? Cứ tưởng là ta giỏi, cho mũi tên bắn ngay mình rồi nhăn nhó, thù hằn, đau khổ. Hãy xét lại mình, nếu nội lực còn yếu thì tránh là hay nhất.

Trên đời này con người đau khổ vì cái của tôi: thân tôi, con tôi, ruộng vườn của tôi, nhà cửa của tôi, tài sản của tôi v.v... Nhưng sự thật cái thân này còn chưa thật của tôi, thì cái gì là của tôi đây.

Con tôi, tài sản tôi

Người ngu sanh ưu não

Tự ta, ta không có

Con đâu tài sản đâu.

Nó không thật là của mình, nên có mắt huệ nhìn rõ điều đó để nhẫn mà không nhục. Phải thường quán chiếu đời là cõi tạm, thân là vô thường.

Mạng sống của chúng ta

Sớm còn tối lại mất

Chỉ trong khoảng sát na

Là đã qua đời khác.

Thân là không thật nên gọi tạm của tôi. Người ta nói nặng, không thấy có tôi thì lấy ai giận, ai tức, ai đau khổ. Nhẫn mà không nhục mới là hay.

Trong nhẫn có ba cái nhẫn:

1. Thân nhẫn:

Dù cảnh nắng, mưa, nóng, lạnh, dù bị người đánh đập hay chạm trán với bao nhiêu việc khó khăn mà thân này vẫn có sức chịu đựng.

Cảnh nắng, mưa, nóng, lạnh

Hành hạ bức não thân

Thân cam chịu không phiền Được gọi là thân nhẫn.

Người ta đánh mình, hay lỡ người ta đụng vào người mình thì quán chiếu “cục thịt đụng cục thịt” thì có chi mà giận. Vì thấy có tôi nên nghĩ rằng nó ghét tôi, nó đánh tôi nên tôi giận. Không thấy có tôi thì không phiền não.

Biết thân là giả tạm, khi gặp điều khó khăn chướng ngại chỉ cần nhẫn là an. Sống như vậy để không làm khổ mình.

“Nhẫn nhẫn nhẫn, trái chủ oan gia từ đây dứt”.

Nếu tâm đầy cố chấp, nó ghét tôi, nó đánh tôi, nó thù tôi, thì hận thù không thể nguôi.

Người kia làm khổ tôi đây

Ai còn nghĩ vậy, oán này chưa tan.

Người kia làm khổ tôi đây

Ai đừng nghĩ vậy, oán này tiêu tan.

Phải có mắt huệ nhìn rõ lẽ thật để tạo sự bình an cho mình và người chung quanh.

2. Khẩu nhẫn:

Sự nhục mạ chua cay

Hoặc mắng nhiếc tồi tệ

Cam chịu không chửi lại

Được gọi là khẩu nhẫn.

“Thần khẩu hại xác phàm” xưa nay kinh nghệm trong dân gian vẫn thường nhắc nhở nhau câu nói này. Vậy, đừng để khẩu tạo nghiệp chướng, nên tập khẩu nhẫn. Có người nọ chửi ông kia thật nhiều, nhưng ông giữ tâm bình thản không có lời nói nặng lại, vì biết rằng lời nói chỉ là phương tiện không thật. “Hạnh phúc cũng từ cái miệng, phước đức cũng từ cái miệng, tội lỗi cũng từ cái miệng”. Muốn bình yên phải tu cái miệng. Ai có nói nặng, nhẹ thì cảm nhận lời nói không thật, không chấp nên không khổ. Chấp nhiều thì khổ nhiều, chấp nhiều là nặng nghiệp.

Trong một gia đình, nếu người trong gia đình thường hay giận hờn, cố chấp thì gia đình đó là địa ngục.

Nếu một người đầy buồn phiền, đụng đâu nói đó, không tu cái miệng, không nhẫn cái miệng thì không có sự bình an.

Có câu chuyện: Bữa nọ, Đức Thế Tôn trên đường đi khất thực, có bọn người Bà La Môn đi theo sau chửi thật nhiều. Đức Thế Tôn vẫn bình thản, chậm rãi đi từng bước mà không một lời phản ứng. Tức quá, bọn này mới chặn Đức Thế Tôn lại và hỏi:

Ông Cù Đàm! Nãy giờ tôi chửi ông như vậy, ông có nghe không?

Đức Thế Tôn trầm tĩnh mà nói rằng: “Giả sử ông dọn mâm cơm mời Như Lai ăn, Như Lai không ăn thì mâm cơm đó ai ăn?”

Tôi mời ông không ăn thì tôi ăn.
Hồi nãy giờ ông chửi, Như Lai không nhận thì tiếng chửi ấy về ai?

Kinh Phật có dạy: “Ngậm máu phun người, miệng mình dơ trước”, hay “Ngước mặt lên trời phun nước miếng, nước miếng không lên trời mà rơi xuống mặt mình” ngụ ý: mình chửi người, mình ghét người, mình thù người thì tâm mình độc ác, tâm độc ác là có nghiệp xấu, có tội lỗi. Khi tiếp cận mọi người mà nói nặng người, chửi mắng người, làm khổ người thì ta có khẩu nghiệp nặng.

Ác nghiệp làm ta khổ

Phước nghiệp làm ta vui

Khi ta bỏ thân này

Nghiệp theo sát bên ta.

Ta không sợ ai, chỉ sợ ác nghiệp của lòng ta. Nghiệp từ cái miệng thì quả cũng trổ từ cái miệng. Nếu không tu cái miệng, thường nói lời ác, sau này sẽ bị quả báo sứt môi, câm ngọng. Phải nhẫn ở cái miệng để có lời nói thanh cao, êm dịu và phước đức. Nghe người nói nặng, trách hờn mà không cãi lại là nhẫn cái miệng. Vợ chồng thương nhau lắm mà không nhẫn cái miệng nên gọi là khắc khẩu. Chúng ta là người phàm sống bằng tâm trần tục nên có lúc còn nóng giận, nặng lời. Muốn cho gia đình êm ấm, hòa thuận thì phải nhẫn, lỡ ông nóng thì bà nhịn, bà nóng thì ông nhịn. Đó là cách sống để tạo sự ấm áp trong gia đình.

Lời nói phiền trách người là có nghiệp, lâu ngày thành thói quen gọi là khẩu nghiệp xấu. “Đi đêm có ngày gặp ma”, hôm nay nói xấu về người đó nhiều quá, mai mốt gặp người khác họ không nhịn nên sanh rắc rối. Hãy tu cái miệng, hãy nhẫn cái miệng.

3. Ý nhẫn:

Người đời thường nhẫn cái thân, nhẫn cái miệng, nhưng ý khó nhẫn.

Đối trước mọi nghịch cảnh

Không khởi tâm phản đối

Không căm hờn, oán hận

Được gọi là ý nhẫn.

Người đời bằng tâm phàm thường nhẫn trong đè nén, dằn xuống. Cái lò xo đè mạnh xuống, buông ra nó bung lên rất mạnh. Trái banh quăng vô tường nhẹ dội ra nhẹ, quăng vô tường mạnh dội ra mạnh. Nhẫn đè nén cũng vậy. Nhẫn bằng hình thức đè nén khi chịu đựng không nổi, sát phạt ghê gớm. Phải nhẫn cái ý bằng cách không chấp, buông xả.

Một thí tất cả thí

Một xả tất cả xả

Thí xả cho sạch hết

Thức thời mặt thật hiện.

Cái gì đáng nghe thì nghe, không đáng nghe thì xả bỏ. Cái gì luận bàn để có lợi thì nên, không đáng thì xả bỏ. Nhẫn của đại thừa là xả bỏ, không cố chấp, không thấy có mình có người. Chuyện đáng đem vào thì đem, chuyện không đáng thì xả bỏ, như vậy không có đè nén, xả hết cho tâm được nhẹ nhàng được gọi là ý nhẫn.

Thân nhẫn, khẩu nhẫn, ý nhẫn thì không có kẻ thù.

Kẻ thù hại kẻ thù

Oan gia hại oan gia

Không bằng tâm tà vạy

Gây ác hại chính ta.

Nếu không nhẫn, có phản ứng thì có đối thủ.

Kệ rằng:

“Nhẫn một chút, sóng yên gió lặng,

Lùi một bước, biển rộng trời cao”.

Muốn được bình yên thì phải tập “nhẫn một chút, lùi một bước”. Khi “nhẫn một chút” thì sóng gió không có, sóng không phải ở ngoài biển mà sóng nơi lòng người. Nó làm điêu đứng, rối rắm, đau khổ. Người ta đánh, mình “lùi một chút”, một người đánh một người lùi thì người nào được thương chắc quý Phật tử cũng biết. Mọi người vẫn thường nói: “Cái tên gì ngang ngược bạo ác quá, người ta nhịn mà cứ đánh hoài”, ghét người dữ mà thương người nhịn vốn lẽ rất tự nhiên. “Lùi một chút” tâm trầm tĩnh, dịu hòa, hồn nhiên, thênh thang rộng lớn như biển rộng trời cao, đạo đức tăng trưởng, được mọi người thương mến, kính yêu. Nhờ lùi mà mọi người kính trọng, còn ngang tàn, háo thắng, sát phạt thì đó là tội ác.

Lúc vinh đừng cao hứng

Khi nhục đừng oán hận

Nhẫn nhục có sức mạnh

Cảm phục được lòng người.

Có ông nọ tánh nóng ghê gớm lắm, đếp gặp Hòa thượng: “Bạch Hòa thượng, tánh con nóng lắm nên gia đình con không yên. Xin Hòa thượng dạy cho con pháp tu dằn tánh nóng.”

Hòa thượng dạy rằng: “Con viết 1.000 chữ “nhẫn”, chỗ nào cũng dán lên và tu với chữ nhẫn”.

Muốn hết nóng thì nhẫn, muốn yên thì nhẫn. Tiền thân đức Phật là vị tiên tu hạnh nhẫn nhục.

Kìa tiên nhơn nhẫn nhục

Tiền thân đức Thích Ca

Thân bị cắt từng đoạn

Tâm không chút giận hờn.

Khi Đức Phật Thích Ca còn là vị tiên tu hạnh nhẫn nhục. Ngày nọ, vua Ca Lợi dẫn một đoàn quân đi vào một khu rừng. Đến khu rừng, các tỳ nữ của nhà vua thấy vị tiên thì tất cả chạy lại, quay quần bên vị tiên đó. Nhà vua tức giận mới hỏi vị tiên:

Ông làm gì ở đây?
Tôi tu hạnh nhẫn nhục.
Vậy tôi cắt thịt của ông, thử xem ông có nhẫn nhục nổi không.

Nói xong, nhà vua cắt tay, cắt mũi của vị tiên nhưng vị tiên đó vẫn bình thường không tỏ ra thái độ lo sợ hay đau đớn, vì tâm của vị tiên này đã đạt đến trạng thái vô phân biệt. Thấy vậy, nhà vua mới hỏi lại:

Ông thật sự đã nhẫn nhục chưa?
Nếu tôi thật sự tu hạnh nhẫn nhục, thì những gì mà Ngài đã làm trên thân tôi đều lành lặn hết.

Huyền diệu thay! Những bộ phận bị cắt đều lành lặn lại như cũ. Vị tiên ấy nói với nhà vua:

Khi thành đạo tôi sẽ độ ông trước, vì ông có duyên với tôi.

Và khi thành Phật, đức Phật Thích Ca đã hóa độ Ngài Kiều Trần Như, chính là hậu thân của vua Ca Lợi.

Nhờ nhẫn nhục mà đức Phật đã nhiếp phục được vua Ca Lợi phải quay lại làm đại tử của Ngài. Nhẫn làm sao mà đối thù phải mềm lòng, mọi người kính phục, thì nhẫn đó tuyệt vời. Khi người chửi mình, nhẫn làm sao cho người ta hết chửi, mà còn thương mến thì mới thật là nhẫn. Còn người ta chửi một tiếng, mình nổi sân mắng chửi lại, sanh phiền não thì mất hết tình nghĩa.

Lấy ơn báo oán, oán tiêu

Lấy oán báo oán, càng nhiều oan gia

Người oán ta, ta nên lấy ơn hóa giải. Anh thù tôi, thì tôi nhẫn và tạo cách cảm hóa anh. Còn người làm xấu, mình chửi lại người thì ai phục mình. Cho nên hạnh nhẫn nhục là hạnh cao đẹp.

Người thuần phục hạnh nhẫn nhục sẽ có lòng nhân, hiếu thảo hơn người thường. Câu chuyện có thật về một người học trò của Khổng Tử tên là Mẫn Tử Khiên đã được mọi người lưu truyền đến ngày nay với tấm lòng kính trọng và yêu mến ông.

Chuyện xảy ra trong thời Xuân Thu, tại vùng Đông Nam Khúc Phụ, nước Lỗ (nay là thành phố Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông), Mẫn Tử Khiên được sinh ra trong một gia đình kinh doanh mua bán nhỏ. Cha lo việc buôn bán, mẹ chăm việc bếp núc trong nhà. Năm Tử Khiên lên bốn tuổi, mẹ chú bị nhiễm bệnh lao phổi, cha thường vắng nhà, chỉ có Tử Khiên ở cạnh và chăm sóc mẹ.

Mùa thu năm ấy, trong giờ phút hấp hối bà đã nói với Tử Khiên: “Sau khi mẹ chết đi, con phải làm người lương thiện, muốn nên người thì phải học tập chăm chỉ”. Những lời tâm huyết của mẹ trước lúc đi xa đã in vào tâm hồn trẻ thơ của chú. Một năm sau đó, cha Tử Khiên lấy Lý Thị làm vợ kế, lúc đầu mẹ kế đối xử với Tử Khiên rất tốt, nhưng sau khi có hai đứa con riêng thì dần ngược đãi chú. Chú chỉ được ăn cơm thừa, canh cặn, mặc áo rách rưới. Tử Khiên rất đau khổ, nhiều lúc khóc thầm, nhưng sau những lần ấy, chú nhớ lời mẹ dặn, lấy lại tinh thần đến trường nghe thầy giảng giải về đạo. Ngày tháng trôi qua, Tử Khiên cũng đã học được nhiều đạo lý làm người.

Rồi vào một ngày mùa đông giá rét năm chú mười lăm tuổi, gió to gào thét, hoa tuyết bay đầy trời, bốn cha con Tử Khiên cùng nhau ra ngoài kéo xe. Lúc ấy Tử Khiên chỉ mặc một chiếc áo bông bằng hoa lau, nên khi cơn gió nào thổi qua là chú bị lạnh toát toàn thân như ngàn mũi kim đâm vào người, còn hai em của chú thì được mặc áo bông mới, vừa dầy, vừa ấm.

Khi kéo xe qua được chiếc cầu nhỏ thì đến con đường đất. Sắc mặt của hai đứa em đều đỏ hồng hào, không ngừng chảy mồ hôi trên trán. Nhưng Tử Khiên toàn thân lại run cầm cập, sắc mặt trắng bệch, cha của chú vừa nhìn thấy đã tức giận nói: “Mày là anh lớn, kéo xe lại lười, trời lạnh thế này, đi đường xa như vậy, mà không đỗ một giọt mồ hôi nào?”. Tử Khiên nhìn cha bằng con mắt hờn tủi, trong lòng nghĩ: “Cha đâu có biết được nỗi khổ tâm trong lòng con. Nếu như con nói ra, không những em con bị mắng mà mẹ kế...” nghĩ đến đây, chú lại gắng sức tiếp tục kéo xe.

“Giỏi lắm! Giờ thì mày đã đủ lông đủ cánh, dám nhìn ta với ánh mắt như vậy hả!". Trong lúc tức giận, ông đã lấy roi đánh vào lưng Tử Khiên, khi roi vừa đánh xuống thì áo bông của chú rách tung ra. Từng lớp hoa lau bay lên trên không, rồi rơi xuống nền đất. Người cha hết sức ngạc nhiên, nhặt lên xem mới bỗng nhiên tỉnh ngộ. “Thứ con mặc là.... cha không tốt với con rồi!”, ông ôm chặt lấy con mà không nói thành lời.

“Tử Khiên, mau cùng hai em kéo xe về nhà đi. Cha phải hỏi tội mẹ kế con và đuổi bà ta đi.”

“Cha ơi không thể làm như vậy được”. Tử Khiên vừa nói vừa quỳ dưới đất, thành khẩn cầu xin: “Khi mẹ ở lại, chỉ có mình con chịu lạnh, nhưng nếu mẹ phải ra đi hai em con sẽ bơ vơ khổ cực". Hai người em thấy vậy cũng quỳ xuống rơi lệ cầu xin ông.

Người cha thấy các con như vậy cũng thương tâm mà bỏ ý nghĩ đuổi vợ đi. Người mẹ kế sau khi nghe hai con mình thuật lại câu chuyện, bà rất ân hận và quyết tâm sửa chữa sai lầm của mình, đối xử với Tử Khiên ngày một tốt hơn, có khi còn hơn cả con đẻ của mình nữa.

Thế mới thấy sức mạnh của lòng nhân đã cảm hóa và thay đổi được con người hẹp hòi, vị kỷ. Nhưng để có sức mạnh này, chúng ta phải có sự nhẫn nhục và trao đổi trí tuệ để thấy được điều hay lẽ phải nên làm, từ đó chuyển hóa chính con người mình và ảnh hưởng tốt đến những người chung quanh. Như Mẫn Tử Khiên, ông rất xứng đáng với lời khen của Khổng Tử: “Mẫn Tử Khiên, trên thì kính trọng cha mẹ, dưới thuận hòa với anh em, lời nói và hành động không trái ngược nhau, do vậy không bị người đời trê trách”.

Trong nhẫn còn có 4 loại nhẫn:

1. Sanh nhẫn:

Chúng sanh hoàng hành ta

Ta sẵn sàng cam chịu

Không tỏ chút hận thù

Được gọi là sanh nhẫn.

Nhẫn nhục đối với con người, cả với con thú. Con người dữ quá mình phải nhẫn, con chó dữ quá mình cũng nhẫn... Nhẫn nhịn từng lời nói của con người. Nhẫn để yên, nhẫn để tu.

Sanh nhẫn là nhẫn với con người và chúng sanh trong pháp giới.

2. Pháp nhẫn:

Cảnh nắng, mưa, gió, lạnh

Hoành hành cuộc đời ta

Cam chịu không than phiền

Được gọi là pháp nhẫn.

Nhẫn đối với các pháp: nắng, mưa, gió, lạnh đều bình thản chịu đựng được.

3. Vô sanh nhẫn:

Trực nhận được lẽ thật

Không còn chấp mình người

Không buồn giận, phiền than

Gọi là vô sanh nhẫn.

Trực nhận được lẽ thật biết đời là cõi tạm, thân tâm là không, cảnh vật là không, sự sống không thật, trên đời này cuối cùng là con số 0. Chúng ta đang sống là đang đóng vở tuồng cải lương trên sân khấu, hạ màn rồi ai cũng như nấy. Hạ màn chính là lúc mình trút hơi thở sau cùng. Có xưng hùng, xưng bá thì cuối cùng nằm trong sáu miếng ván. Hiểu rõ đời người là mộng huyễn, không thấy có mình, không thấy có người, nhẫn mà không nhục là vô sanh nhẫn.

Người nhẫn là người có đạo đức, người có giá trị.

4. Tịch diệt nhẫn:

Tâm không sanh không diệt, tâm chứng ngộ chân lý, thanh thản bình yên, sống đời tự tại, giẫm đạp lên thuận nghịch, khen chê. Tịch diệt là Niết bàn ở cõi thế, không có ngã, không có ta, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.

Tịch diệt nhẫn là trí nhẫn.

Sáng suốt mà chịu đựng

Muôn ngàn điều cay đắng

Do chúng sanh gây tạo

Được gọi là trí nhẫn.

5. Nhẫn nhục Ba la mật

Thân, khẩu, tâm trong sạch Nhẫn không thấy mình nhẫn Và cảnh vật để nhẫn.

Nhẫn nhục Ba la mật cao hơn. Người phàm chưa làm được, nhưng người tu đến chiều sâu sẽ làm được để có sự bình an cao hơn. Cụ thể chính là cuộc đời của đức Phật, người bậc tu hành công đức viên mãn, luôn gặp những khó khăn chướng ngại nhưng người đều vượt qua nhẹ nhàng và độ rất nhiều chúng sanh.

Lần nọ, Đức Thế Tôn đi giáo hóa ở một làng Bà La Môn, trong làng có gia đình nọ giỏi về tướng số lại hạ sanh được một cô con gái rất đẹp. Ông Bà La Môn này muốn gả con cho người có đủ ba mươi hai tướng tốt, nhưng tìm mãi chưa được. Bỗng một hôm ông tình cờ gặp Phật đang đi giáo hóa, ông mừng quá chạy về nhà kêu vợ ra xem. Bà vợ ra thấy Phật rất hài lòng, đúng là người đủ ba mươi hai tướng tốt. Bà bèn ngỏ ý muốn gả con gái cho Ngài. Phật nói:

“Đối với bà thì con gái bà đẹp. Song, đối với ta thì đó là một đãy da hôi thối, tất cả trong thân nàng đều là bất tịnh”. Nghe Phật đáp, bà buồn trở về nhà thuật lại cho con gái nghe. Cô tự ái, nổi giận, ôm lòng thù oán và thề rằng sẽ trả thù Phật.

Chẳng lâu sau, cô được làm hoàng hậu của một nước nhờ vào nhan sắc của mình. Bấy giờ, Phật đến giáo hóa xứ đó, hoàng hậu bèn tập hợp du đãng chặn đường Phật để mắng chửi. Tôn giả A Nan đi theo Phật thấy họ vây chửi thậm tệ, Ngài không chịu nổi mới nói: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn đi nước khác giáo hóa”.

Phật hỏi: “Đi đâu?”

A Nan thưa. “Thế Tôn đi nước nào cũng được, vì ở nước này cứ bị người vây chửi, con không kham chịu được”.

Phật hỏi: “Giả sử đi đến chỗ khác bị người chửi nữa thì A Nan tính sao?”

A Nan thưa: “Nếu tới đó mà bị chửi nữa thì chúng ta về nước Xá Vệ, Ma Kiệt Đà… chỗ mà Thế Tôn có nhiều đệ tử, ở đó giáo hóa”.

Phật hỏi: “Nếu là thầy thuốcc giỏi. A Nan có nên để bảng: Tôi chỉ trị những bệnh nhẹ, không trị những bệnh nặng chăng?”

A Nan thưa: “Bạch Thế Tôn, không được. Thầy thuốc giỏi phải trị được bệnh nặng mới cứu được nhiều người”.

Phật nói: “Cũng vậy, dân ở đây họ nhiều mê muội là người bệnh nặng nên gặp ta họ chửi. Thôi, thong thả, để ta giáo hóa họ vì họ cần ta”.

Du đãng vẫn tiếp tục chửi. An Nan nói: “Họ chửi Thế Tôn hoài, làm sao giáo hóa được?”

“Chừng nào họ không nghe lời nói của ta thì ta đi”. Nghe Phật trả lời A Nan như vậy, du đãng nói:

“Thôi. Cù Đàm hãy ở đây giáo hóa, chúng ta sẽ nghe lời Ngài dạy”. Từ đó, Phật nói pháp giáo hóa họ.

Đức Phật còn bị người chửi mắng huống chi là chúng ta. Tôn giả A Nan còn tâm phàm như chúng ta nên nghe chửi không kham chịu được, còn Phật đã giác ngộ, tiếng chửi đối với Ngài như gió thoảng ngoài tai. Ngài không động tâm, thương họ là những người mê muội, bệnh nặng nên nói pháp cứu chữa.

Cũng vậy, đối với người Phật tử có gia đình mà biết tu, khi bị chồng (vợ), hoặc con làm khó dễ, đó là cơ hội tốt để mình tu, chớ buồn giận và đừng cho rằng bạn mình, con mình phá rối không cho mình tu, mà nên xét nghĩ thương bạn, thương con vì chưa hiểu đạo, còn mờ tối, cần sự cảm hóa của mình. Thế nên, trước những lời xúc não, mọi khó khăn, chúng ta hãy sáng suốt kham nhẫn tất cả thì được an vui.

Từng bước ta nhẫn. Nhẫn từ thấp đến đỉnh cao là thành Phật, đức Phật đã nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Phải tu nhẫn để thành Phật về sau. Đã có duyên gặp Phật, gặp Pháp, gặp Thầy phải tăng trưởng thiện duyên, để được thành Phật. Lấy nhẫn làm đầu, lấy nhẫn làm an, lấy nhẫn làm sự sống, lấy nhẫn làm hạnh phúc.

Nhẫn là thuyền vững chắc

Giúp ta vượt sóng gió.

Nhẫn là nước cam lồ

Rưới tắt lửa tham sân

 

Nhẫn là vị thuốc hay

Cứu bệnh trong cơn nguy.

Nhẫn là tạng kho báu

Chứa giữ các công đức.

Hôm nay đi chùa về nhà viết 1.000 chữ nhẫn dán lên “Nhẫn thì an”.

Người tu hạnh nhẫn nhục

Tập tánh giống như nước

Thường mềm dẻo mát dịu

Rộng lượng và khoan dung.

Nước mát dịu, nước lợi ích, hãy tập tánh giống như nước. Nhìn thấy nước mát thì tâm phải mát như nước. Tâm mát là có nhẫn, tâm nóng là có sóng gió.

Nhẫn nhục như bùn đất

Dù sạch dơ đổ lên

Đại địa cam thọ hết

Không tỏ chút giận hờn.

Đất bằng hay nhẫn nhục. Bất cứ vật gì dù sạch hay dơ đổ lên đất vẫn cam thọ. Nguyện tu sức nhẫn nhục như đại địa. Nguyện không trái nghịch ý người. Hãy tập tánh giống như đất, đất dung chứa, đất cam chịu. Ai có để đồ dơ bẩn, tội lỗi vào mình thì tâm phải giống như đất không phản ứng, không chống trái.

Bậc trí tuệ nhập đạo

Thường vui vẻ nhận lãnh

Sự chửi mắng cay độc

Như uống nước cam lồ.

Trên lộ trình tu phải giẫm đạp lên thuận nghịch, bị người chửi mà không giận mới là tu thiệt, còn người ta mới khảo đảo mà nổi cơn điên lên rồi thì cần nên xét lại.

Có câu chuyện bắt nguồn từ một Phật thoại sẽ cho chúng ta tỏ rõ về hạnh tu nhẫn nhục:

Ngày xưa, có một nhà sư lên núi chọn một gốc cây, ngồi xếp bằng tu theo lối trường định. Một hôm, có hai vợ chồng con chim chích đến làm tổ ngay trên đầu của nhà sư. Vị sư cứ để yên, mặc chúng muốn làm gì thì làm.

Hôm đó, đến lượt con chim mái đi tìm mồi, lúc lượn qua cái hồ, nó thấy một con nhện đang giang tơ trong một đóa sen. Nhện nhác thấy chim liền ẩn mình vào giữa những cánh hoa, làm chim mất công tìm mãi. Không ngờ vừa tắt ánh mặt trời, hoa sen cụp các cánh lại, nhốt chim vào trong. Chim cố tìm lối chui ra, nhưng những cánh hoa vây bọc dầy quá nên dành chịu nằm lại đó.

Mãi đến sáng hôm sau, chờ lúc hoa sen nở chim mái mới thoát được bay về tổ. Một cuộc tranh cãi nổ ra trên đầu nhà sư. Ghen vợ, chim trống mắng nhiếc không tiếc lời. Cuộc đấu khẩu kéo dài hết cả buổi sáng vẫn chưa chấm dứt. Nhà sư rất khó chịu. Tới lúc vợ chồng chim cãi vả đến chỗ găng nhất, nhà sư lấy tay giật cái tổ chim rất mạnh, quăng xuống đất và nói:

- Đồ khốn! Chỉ có mỗi chuyện đó mà chúng mày làm điếc cả tai ông từ sáng đến giờ.

Thế là công sức tu luyện của nhà sư hốt nhiên vứt bỏ trong chốc lát.

Nhưng nhà sư vẫn không nản chí, ngài tìm đến một khúc sông chảy xiết, tình nguyện làm người chèo đò đưa khách qua sông không lấy tiền.

Một hôm nước sông tự nhiên chảy xiết hơn mọi ngày và trời bỗng đổ một trận mưa lớn. Giữa lúc đó có một người đàn bà dắt một em bé đòi qua sông.

Nhà sư vận dụng hết tay nghề để đưa hai mẹ con người nọ qua bên kia sông. Lúc sắp lên bờ, người đàn bà bỗng kêu lên:

“Ta quên mất! Có một gói hành lý bỏ quên ở cái quán bên kia. Vậy nhờ ông chịu khó chèo sang lấy hộ.“

Nhà sư nín lặng chèo qua sông giữa sóng gió. Mãi đến gần tối nhà sư mới đưa được gói hành lý sang cho người đàn bà. Nhưng khi xem lại hành lý, người đàn bà lại kêu lên:

 “Thôi rồi! Tôi còn một đôi giầy của thằng bé để gần ở giường, vậy nhờ ông gắng sang lấy hộ cho tôi một lần nữa”.

Người đàn bà nói chưa dứt lời thì nhà sư đã giơ tay chỉ vào mặt: “Đồ đàn bà hư! Tao có phải sanh ra để hầu hạ mẹ con nhà mày mãi đâu”.

Nhưng người đàn bà ấy vốn là Đức Bồ tát Quán Thế Âm thị hiện thử lòng nhà sư đó, bấy giờ hiện nguyên hình và cất tiếng bảo rằng:

“Nhà ngươi vẫn chưa thực tâm nhẫn nhục, sự tu chưa đạt kết quả, chỉ tu hú mà thôi! “

Nhà sư thẹn quá đành cúi đầu nhận lỗi.

Người tu hạnh nhẫn nhục phải giẫm đạp lên thuận nghịch, khen chê, thương ghét. Dù người có nói nặng, có khảo đảo vẫn không phản ứng.

Khen chê, thương ghét mặc người.

Từ bi hỷ xả, nơi nơi rải đều

Mưa trời nào nệ rong rêu

Tâm từ vô lượng rải đều chúng sanh.

Nhẫn thì an, nhẫn để tìm sự giác ngộ. Muốn đắc đạo thì phải nhẫn. Người đắc đạo không động niệm, không cố chấp. Chuyện bên ngoài là chuyện của người, chuyện của ta là phải nhẫn.

Bởi chưa nhẫn sâu nên còn phiền não, còn phản ứng.

Nhẫn nhục hạnh an ổn

Khắc phục tâm hận thù.

Tiêu trừ các tai nạn

Hưởng nhân quả sâu xa.

Nhẫn thì an ổn, kẻ thù không có, tâm linh thăng hoa và dần dần thâm nhập Phật đạo.

Nhờ tu hạnh nhẫn nhục

Lửa sân hận dập tắt.

Dục vọng chẳng hoành hành

Căn lành dần thêm lớn.

Nhờ nhẫn mà không còn giận nữa, bao nhiêu dục vọng không còn hoành hành. Nhẫn không chỉ bên ngoài, mà nhẫn cả trong lòng. Bên ngoài thì nhẫn với người, bên trong phải nhẫn với lòng mình. Nhẫn cái nghiệp của ta là quan trọng. Bao nhiêu sự thèm khát, đòi hỏi, giận hờn, ham muốn… ta phải nhẫn nó, buông xả hết. Bên ngoài nhẫn được, mà bên trong không nhẫn thì tâm vẫn chưa an. Bên ngoài nhẫn, bên trong cũng nhẫn sẽ chuyển hóa được nghiệp chướng, đạo tâm tăng trưởng, sự sống dần an lành, hạnh phúc.

Nhờ tu hạnh nhẫn nhục

Gia đình được sum họp,

Bạn hữu được tương thân,

Tớ thầy được trung tín.

Trong gia đình muốn yên thì phải nhẫn, Nhìn kỹ lại hiện thực, đừng nói rằng gia đình tôi không yên là tại ông này phạt, bà kia phạt, mà gia đình không yên là do mọi người trong gia đình không nhẫn. Nhờ nhẫn mà gia đình sum họp, bạn bè thương yêu và tớ thầy gần gũi.

Nhờ tu hạnh nhẫn nhục

Lòng từ được tăng trưởng

Trí đức được nâng cao

Đạo mầu ngày tỏ rạng.

Nhẫn nhục là trí đức có, lòng từ có và gần được với đạo.

Toàn thể chư hành giả hôm nay hãy tập tu hạnh nhẫn. Không nhẫn là rạn nứt tình thương, thù hận lẫn nhau và gây đau khổ cho nhau. Có nhẫn thì được bình yên hạnh phúc.

Do vậy nên “nhẫn thì an”. 

 




Lương Hoàng Sám Pháp - Quyển 2
Ngày đăng tin: 13/03/2018
Lương Hoàng Sám Pháp - Quyển 1
Ngày đăng tin: 07/03/2018
Tịnh Độ Thập Nghi Luận
Ngày đăng tin: 21/02/2018
Nhẫn Thì An
Ngày đăng tin: 21/02/2018