Quay về trang chủ

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

CHÙA PHÁP THƯỜNG




Mở đề

Trong guồng máy phức tạp của con người, cái tâm là vô cùng dũng mãnh. Tâm chứa đựng một kho tàng đức hạnh và cũng có một hầm tật xấu. Người biết vun bồi đức hạnh là một phước lành cho nhân loại, kẻ bị tật xấu chi phối là một đại họa cho xã hội.

Những ai có chí hướng trở thành bậc vĩ nhân cao thượng và hữu ích, những ai muốn phục vụ nhân loại bằng cách nêu cao tấm gương lành trong sáng và muốn ban bố những lời dạy hữu ích, những ai muốn tận dụng cơ hội quí báu được sanh làm người hãy cố gắng gội rửa những tật xấu còn lại và phát triển những đức hạnh đang ngủ ngầm trong tâm.

Khai thác hầm mỏ là một điều khó, ví như để tìm một mỏ vàng, mỏ dầu hay kim cương, con người phải tốn biết bao nhiêu tiền của và công sức, phải trải qua biết bao hiểm nguy gian khổ để đào sâu vào trong lòng đất. Nhưng để khai thác kho tàng đức hạnh vô giá nơi con người, ta chỉ cần kiên trì cố gắng và nhẫn nại thực hành trong đời sống hàng ngày. Mỗi người dù trai hay gái, già hoặc trẻ, sang hay hèn, đều có thể tìm hiểu, khai quật kho báu vô giá này, ngõ hầu kiến tạo sự an lạc cho tất cả chúng sanh.

Tứ vô lượng tâm là một pháp mà đức Phật đã thuyết nhằm chỉ rỏ cho chúng ta cách sống an vui và hạnh phúc cho mình cùng mọi người. Pháp này bao gồm Từ, Bi, Hỷ, Xả, vì sao pháp này lại xuất hiện, chúng ta sẽ tìm hiểu dưới đây.

Sân hận là một tật xấu. Có sức tàn phá vô cùng khốc liệt. Đối nghịch với lòng sân, tâm từ là một đức độ nhẹ nhàng êm dịu, giúp cho con người thành tựu nhân cách sống cao thượng.

Hung bạo cũng là một tật xấu, đã gây biết bao đau thương, khổ lụy cho muôn loài, vì thế tâm bi là vị thuốc có thể tiêu trừ bệnh này.

Ganh tị là một chất độc cho cơ thể, thúc đẩy con người lún sâu vào vòng ganh đua nhơ bẩn và những cuộc tranh chấp hiểm nguy. Phương thuốc mầu nhiệm và công hiệu nhất để trị bệnh ganh tị này là tâm hỷ.

Bám víu vào những gì ta ưa thích mà bất toại nguyện, và những điều không vừa lòng thì làm cho tâm bất an. Do sự phát triển tâm xả, hai nhược điểm trên sẽ bị tiêu diệt lần lần.

Tứ vô lượng tâm giúp con người trở nên hoàn thiện và có được lối sống của bậc Thánh trong kiếp hiện tại. Tứ vô lượng tâm có khả năng chuyển đổi con người ra bậc siêu nhân, chuyển phàm ra thánh. Nếu mỗi người đều ráng công thực hành Tứ vô lượng tâm, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, giai cấp v.v. thì quả địa cầu này sẽ trở thành một thiên đàng mà tất cả chúng sanh đều được sống an vui trong tình huynh đệ, và mỗi người trở nên một công dân lý tưởng trong một thế giới hòa bình.

Bốn đức độ ấy cũng gọi là vô lượng, nó rộng lớn bao la. Vì từ, bi, hỷ, xả không bờ bến không có ranh giới, không bị hạn định. Tứ vô lượng tâm bao trùm tất cả chúng sinh dầu theo bất cứ tôn giáo nào hay hấp thụ văn hóa nào, mỗi người đều có thể trau dồi bốn đức độ nhẹ nhàng êm dịu ấy, để có phước báu cho mình và người.

 

Chánh đề

TÂM TỪ

Trạng thái cao thượng đầu tiên là từ (metta). Nghĩa trắng của chữ từ là cái gì làm cho lòng ta êm dịu. Từ là tâm trạng của một người bạn tốt. Từ là lòng ước mong thành thật cho tất cả chúng sanh đều được sống an lành vui vẻ.

Tâm từ phải được rải khắp cho mọi chúng sanh, phải bao trùm vạn vật, phải sâu rộng đậm đà như tình thương của một từ mẫu đối với đứa con duy nhất: săn sóc, bảo bọc con, dẫu cho hiểm nguy đến tính mạng cũng vui lòng.

So sánh tâm từ với tình mẫu tử trong đoạn kinh Từ Bi, đức Phật không đề cập tới lòng trìu mến ít nhiều vị kỷ của người mẹ, mà đức Phật chỉ nhằm vào sự mong mỏi thành thật của bà mẹ hiền muốn đứa con duy nhất của mình được sống an lành.

Tâm từ không phải là sự yêu thương xác thịt, cũng không phải là lòng luyến ái đối với một người nào. Tình dục và luyến ái là nguồn gốc của bao nhiêu phiền não. Tâm từ không phải là tình thương riêng biệt đối với người láng giềng, bởi vì người có tâm từ không phân biệt người thân kẻ sơ.

Tâm từ không phải chỉ là tình huynh đệ rộng rãi giữa người với người, mà phải bao trùm tất cả chúng sanh, không trừ bỏ một sanh vật nhỏ bé nào, bởi vì loài cầm thú cũng cần nhiều đến sự giúp đỡ và lòng thương của ta.

Tâm từ không phải tình đồng chí, không phải tình đồng chủng, không phải tình đồng hương, cũng không phải tình đồng đạo. Tình đồng chí chỉ biết những người cùng một mục đích, một chủ nghĩa hay một đảng phái. Tình đồng chủng chỉ có giữa những người cùng một chủng tộc, một màu da. Tình đồng hương giữa những người cùng một xứ.

Đôi khi vì tình đồng chủng, con người đã nhẫn tâm tàn sát đến đàn bà, trẻ con và những người vô tội. Cùng trong một quốc gia cũng có những tâm trạng hẹp hòi, phân chia nhiều giai cấp để ép bức bóc lột lẫn nhau.

          Tâm từ không phải tình thương giữa những người cùng một tôn giáo. Bởi sự hiểu biết hẹp hòi, gọi là tình đồng đạo mà có bao nhiêu người bị đánh đập hà khắc, hoặc đã có hàng muôn hàng triệu người bị sát hại vì chiến tranh tôn giáo. Bao nhiêu hành động ác độc, bao nhiêu cuộc chiến tranh tàn khốc đã làm hoen ố lịch sử nhân loại cũng vì sự hẹp hòi của tình đồng đạo. Con người ghen ghét nhau, thù hận nhau, chém giết nhau chỉ vì không cùng sống được với nhau dưới một nhãn hiệu. Nếu vì không đồng tín ngưỡng mà những người khác tôn giáo với nhau, không thể coi nhau là anh em trong một đại gia đình, thì sứ mạng của tất cả các vị giáo chủ trên thế gian này hẳn thật đã thảm bại chua cay.

          Tâm từ êm dịu vượt hẳn lên trên các tình huynh đệ hẹp hòi ấy. Phạm vi hoạt động của tâm từ không bờ bến, không biên cương, không hạn định. Tâm từ không có bất luận một loại kỳ thị nào. Nhờ tâm từ mà ta có thể xem tất cả chúng sanh là bạn hữu và khắp nơi trên thế giới như quê hương nhau rún. Tựa hồ như ánh sáng mặt trời bao trùm vạn vật, tâm từ cao thượng rải khắp đồng đều phước lành thấm dịu cho người thân cũng như sơ, bạn cũng như thù, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, hư hèn hay đạo đức, người hay thú.

           Lòng từ bao la rộng rãi đồng đều với chính mình cũng như với người thân cận, người không quen biết và những người ác cảm với mình. Người thực hiện tâm từ đến mức cùng tột sẽ thấy mình hòa đồng với tất cả chúng sanh, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái mà ta gọi là “ta” lần lần mở rộng lan tràn cùng khắp càn khôn vạn vật. Mọi sự chia rẽ đều tiêu tan biến mất như đám sương mờ trong ánh nắng. Vạn vật trở thành một thể đồng nhất.

Thật ra không có một ngôn ngữ nào tả ra cho đúng nghĩa chữ metta (từ) trong Phạn ngữ, thiện ý, từ ái, hảo tâm, bác ái là những danh từ tạm gọi đồng nghĩa với metta mà thôi.

Nghịch nghĩa với metta (từ) là lòng sân hận, ác ý thù oán, nghen ghét. Từ và sân hận không thể phát sanh cùng một lúc. Thù oán cũng không thể chứa đựng được từ. Đức Phật dạy rằng: “Không thể lấy thù oán để diệt sân hận, chỉ có tâm từ mới dập tắt được lòng sân”. Không những dập tắt được lòng sân, tâm từ còn diệt trừ các mầm tư tưởng bất thiện đối với người khác. Người có tâm từ không bao giờ nghĩ đến việc làm hại, làm giảm giá trị hoặc bài xích ai, không bao giờ sợ ai, cũng không bao giờ làm ai sợ.

Cần chú ý: Kẻ thù gián tiếp thường mang lốt bạn của tâm từ một cách sâu ẩn bất ngờ là lòng trìu mến vị kỷ. Nếu quan niệm không đúng đắn, tâm từ có thể thành luyến ái. Kẻ thù gián tiếp này thật là tế nhị, mà cũng thật là hiểm độc. Nó hành động như người ẩn núp trong rừng sâu, hay ở sau một sườn núi để chờ đợi hại một người bạn khác, hoặc nó giả làm người bạn thân ở kế bên ta mà lúc nào cũng chực hờ để ám hại ta. Lòng trìu mến đem lại phiền não, tâm từ thì tạo sự an lành hạnh phúc. Đây là một điểm tế nhị mà ta không nên hiểu lầm. Cha mẹ thương yêu, trìu mến con cái, con trìu mến cha mẹ, vợ mến chồng, chồng mến vợ… Tình luyến ái giữa những người thân yêu là một lẽ thường, một sự tự nhiên. Thế gian không thể tồn tại nếu không có tình thương. Nhưng tình thương luôn luôn ích kỷ, hẹp hòi, không thể sánh được với tâm từ là tình thương đồng đều đối với tất cả chúng sanh trong vũ trụ bao la. Do đó lòng từ không đồng nghĩa với tình thương ích kỷ.

Có ý muốn làm cho kẻ khác yên vui là đặc điểm của tâm từ. Người có tâm từ luôn luôn cố gắng tạo sự an lành cho tất cả chúng sanh, chỉ thấy những điều tốt đẹp nơi mọi người mà không khi nào nhìn cái xấu xa hư hỏng của một ai.

Tâm từ đem lại nhiều quả phúc:

Người có tâm từ luôn luôn ngủ được an vui, ngủ với tâm trạng thơi thới, không giận hờn không lo sợ, tự nhiên giấc ngủ sẽ đến dễ dàng, mỗi người đều có thể nghiệm qua, người có tâm từ hể nhắm mắt là ngủ ngon lành.
Khi ngủ với tâm lành, tự nhiên lúc thức dậy cũng với tâm lành, và gương mặt vui vẻ.
Người có tâm từ không chiêm bao mộng mị những điều xấu xa ghê sợ. Dẫu có nằm mộng cũng thấy điều lành.
Người có tâm từ đối với kẻ khác tất nhiên sẽ gặt hái những cảm tình ưu đãi nơi mọi người.

Khi nhìn vào gương, nếu mặt ta vui vẻ hiền lành, thì ảnh của nó cũng vậy. Trái lại, nếu mặt ta cau có, quạu quọ, thì ảnh của nó cũng không khác. Cũng một thể ấy, thế gian bên ngoài là phản ảnh của những hành vi, tư tưởng thiện hay ác của con người. Người hèn hạ xấu xa chỉ biết nhìn vào tội lỗi của kẻ khác.

Trong con người tốt nhất cũng có những điểm xấu, và trong con người xấu nhất cũng có những điểm tốt. Tại sao ta chỉ tìm phần xấu xa tội lỗi mà không để ý đến phần tốt của người? Nếu mọi người đều nhìn vào phần tốt đẹp của nhau thì nhân lọai đã tìm được nguồn hạnh phúc dồi dào.

Người có tâm từ chắc chắn là người bạn thân của nhân loại, mà cũng là bạn thân của tất cả chúng sanh. Loài cầm thú lấy làm vui thích khi được sống gần các bậc hiền nhân. Các tu sĩ sống một mình ở chốn rừng sâu, giữa đám sài lang, hổ, báo, chỉ nhờ có tâm từ bảo vệ. Đức Phật có lần nói: “Như lai sống trên một ngọn núi, giữa đám sư tử, cọp, beo, voi, nai đủ thứ thú dữ, giữa rừng rậm cỏ hoang, không một con vật nào sợ Như lai và Như lai cũng không sợ con vật nào. Chính nhờ oai lực của tâm từ nâng đỡ bảo vệ và giúp Như lai sống an ổn”.
Khi thực hành đúng mức, tâm từ có năng lực đổi dữ ra lành. Thuốc độc không hại được người có tâm từ, trừ trường hợp người ấy phải trả một nghiệp xấu đã gây ra trong quá khứ. Tâm từ giúp hành giả thêm sức khỏe và ngăn ngừa những ảnh hưởng xấu từ bên ngòai. Tư tưởng độc ác đầu độc con người. Tư tưởng trong sạch giúp cơ thể con người trở nên lành mạnh.

Người có tâm từ vô biên như thế ấy là đức Phật. Ngài đã tận tâm tạo sự an lành, hạnh phúc cho tất cả những người yêu kính ngài, cũng như những người ganh tị, oán ghét và âm mưu ám hại ngài. Tâm từ của đức Phật đối với La Hầu La- con ngài, không có chút gì khác hơn đối với ông Đề Bà Đạt Đa, là người đã coi ngài như thù nghịch. Trong kinh có thuật rằng: Khi đức Phật trở về quê nhà lần đầu tiên, con ngài là La Hầu La lúc ấy vừa lên bảy tuổi đến gần ngài và bạch rằng: “Bạch đức sa môn, chỉ cái bóng của ngài cũng đủ làm cho lòng con mát mẻ lạ thường”. Tâm từ của đức Phật bao trùm lấy cậu bé La Hầu La, và có một hấp lực mạnh mẽ làm cho cậu vô cùng cảm kích.

Người có tâm từ luôn luôn được chư Thiên hộ trì.
Tâm từ giúp chúng ta an trụ tâm được dễ dàng vì không bị những tư tưởng trái ngược khuấy động. Người có tâm an trụ sẽ được sống ở cõi trời hay cõi người một cách tự tại.
Người có tâm từ có một gương mặt tươi sáng, vì gương mặt là phản ánh của nội tâm. Tinh thần vui vẻ, có cảm giác an lành, máu được trong sạch nên gương mặt hiền từ dễ mến. Trái lại, lúc giận máu trong cơ thể phải chạy mau gấp đôi ba lần lúc bình thường, dồn lên mặt làm đỏ mặt tía tai. Trong kinh có chép rằng: Sau khi đức Phật đắc đạo, trong lúc ngài chỉ quán tham thiền về lý nhân quả, tâm ngài hoàn toàn an trụ và máu trong cơ thể ngài hết sức trong sạch. Lúc ấy từ trong chiếu ra những ánh hào quang ngũ sắc bao phủ lấy thân ngài.
Người có tâm từ đến lúc chết được an vui vì trong lòng không chất chứa tư tưởng sân hận. Sau khi tắt thở, gương mặt tươi tỉnh ấy là phản ảnh sự ra đi vui vẻ an toàn.
Chết an vui, người có tâm từ sẽ tái sanh vào một cảnh tốt đẹp, nếu đã đắc thiền sẽ tái sanh vào cõi trời Phạm Thiên, và nếu lòng từ rốt ráo thì sẽ an trụ trong Niết Bàn thanh tịnh.

Ngoài những mặt lợi ích về vật chất. Tâm từ có một hấp lực mạnh mẽ phi thường. Người có tâm từ có thể gieo những ảnh hưởng tốt đẹp từ xa đến một người khác. Mọi người đều cảm thấy an vui khi ở gần một người lành.

Một hôm đức Phật đến chỗ nọ, trong hàng các thân hào đến đảnh lễ ra mắt ngài, có một trưởng giả tên Rojà, trước kia là bạn thân của đại đức A Nan Đà. Thấy Rojà đại đức A Nan Đà nói rằng: “Tôi lấy làm vui vì thấy Rojà hôm nay đến đây đảnh lễ chào mừng đức Phật”. Rojà liền trả lời: “Thật ra không phải tôi đến đây để tỏ lòng thành kính đối với đức Phật. Sở dĩ chúng tôi đến đây hôm nay là vì chúng tôi đánh cuộc với nhau rằng: Người nào không đến đảnh lễ đức Phật sẽ bị phạt 500 đồng tiền vàng. Chính vì sợ mất tiền mà tôi đến đây”. Đại đức A Nan Đà thất vọng, đến bạch tự sự cho đức Phật rõ, và xin đức Phật tế độ cho bạn thân của mình. Đức Phật liền rải tâm từ đến Rojà rồi trở về tịnh thất. Lúc ấy Rojà thấy khắp thân mình nhận được một luồng cảm xúc mát mẻ, dường như từ đức Phật đưa đến. Bị cảm kích quá mạnh, chàng không thể kháng cự lại ý muốn gặp Phật, và không khác nào con bê con chạy theo mẹ, Rojà chạy từ tịnh thất này đến tịnh thất khác để tìm đức Phật. Được chỉ đến nơi, Rojà gõ cửa, cửa vừa mở. Ông lật đật đảnh lễ đức Phật rồi nghe Phật giảng pháp và xin quy y.

Đó là một trường hợp cho thấy rằng tâm từ có một sức hấp dẫn rất mạnh mà mọi người đều có thể cảm nhận tùy theo khả năng của mình. Và tâm từ lúc nào cũng sẵn có trong lòng mọi người.

Một sự tích khác: Đề Bà Đạt Đa muốn hại đức Phật, đã xúi giục vua A Xà Thế theo kế của mình: Cho voi uống rượu say rồi lùa voi chạy ngay về phía đức Phật. Con voi hung dữ hùng hổ chạy đến, nhưng đức Phật thản nhiên rải lòng từ đến nó và chế ngự được nó trong khoảnh khắc.

Trong vô lượng tiền kiếp, khi đức Phật còn là một vị Bồ tát, ngài đang hành pháp nhẫn nhục Ba la mật trong một khu rừng. Nhà vua muốn xem hạnh nhẫn nhục của ngài đến đâu bèn truyền lệnh cho quân cắt tay và chân ngài. Ngài vẫn điềm nhiên lặng lẽ hành pháp nhẫn. Vua lấy làm tức giận dùng gót chân đá vào ngực, ngài gục ngã trên vũng máu, thoi thóp thở những hơi thở cuối cùng nhưng lòng vẫn bảo rằng: Ta không bao giờ sân hận oán thù.

Chính đức Phật đã nêu gương lành cao thượng. Đức Phật dạy: “Như đàn voi say trận không kể lằn tên mũi đạn, ta phải can đảm chịu đựng những điều bất hạnh của đời. Một phần lớn nhân loại đã sống ngoài khuôn khổ giới luật, ta phải có thái độ của đàn voi lâm trận, mạnh tiến giữa rừng gươm dao, giáo mác, bình tỉnh nhận lấy những nỗi đau chua cay của đời và thản nhiên vững bước trên đường phạm hạnh”.

Trước cái chết sắp đến, tâm từ của Phật giáo là một thứ khí ôn hòa và hữu hiệu để ngăn ngừa nguy hiểm. Nếu các quốc gia hiếu chiến ưng chịu đem tâm từ thay thế vũ khí để cai trị thế giới bằng công lý và tình thương, thay vì bạo lực, cường quyền thì nhân loại sẽ được an cư lạc nghiệp và hạnh phúc lâu dài.

Sau đây là một vài chỉ dẫn thực tế để hành tâm từ:

Trước tiên hành giả phải gieo trồng tâm từ cho chính mình. Muốn vậy phải rải khắp thân và tâm những tư tưởng an vui, hạnh phúc. Hành giả tưởng niệm: Tâm tôi rất yên tỉnh, thân tôi rất an vui, tôi không bịnh hoạn, không phiền não, không lo âu, không sân hận. Tôi thể hiện lòng từ bi, hào quang từ bi bao phủ quanh tôi, dập tắt mọi tư tưởng ích kỷ, mọi xúc động thù nghịch. Tôi không còn cảm xúc trước cơn xung nộ xấu xa của kẻ khác. Tôi đáp lại cái xấu bằng cái tốt, cái giận bằng cái từ. Hằng ngày rèn luyện tinh thần như thế, dần dần hành giả trở nên vô cùng quảng đại quên tất cả những điều xấu xa của kẻ khác và giữ tâm hoàn toàn trong sạch, không còn bợn nhơ sân hận, oán thù. Ánh nắng hạnh phúc tỏa ra khắp châu thân, hành giả rải hạnh phúc ấy đến cho người khác bằng những tư tưởng lành và những hành động vị tha, thể hiện lòng từ trong đời sống hàng ngày. Khi tâm được an vui và không bị những tư tưởng oán hận làm xao động, hành giả sẽ dễ dàng rải tâm từ đến cho kẻ khác. Ta không thể cho một vật mà chính ta không có vậy nên trước khi muốn làm cho người khác được an vui ta hãy thực hiện từ bản thân mình.

Hành giả rải tâm từ đến cho thân bằng quyến thuộc, bạn bè và những người không quen biết với lòng thành thật ước mong cho tất cả những người này được an vui, hạnh phúc và lánh xa phiền não, bệnh tật, lo âu và sợ sệt. Sau cùng mặc dầu là khó, hành giả rải tâm từ đến cho những người có ác tâm với mình nếu có. Rải tâm từ đến những người coi mình là thù nghịch, lấy thái độ ôn hòa đối lại những cử chỉ bất hòa là hành động của bậc anh hùng quân tử, đáng được làm gương cho đời.

Đức Phật dạy: “Hãy giữ tâm hồn luôn luôn trong sạch giữa đám người đầy thù hận”.

Không thù oán giữa người thù oán,

Sống như vầy an ổn biết bao,

Giữa người tham dục xôn xao,

Sống không tham dục thanh cao ai bằng.

Kinh Pháp cú

Hành giả rải tâm từ đến cho tất cả chúng sanh, không phân biệt giai cấp, chủng tộc, màu da hay nam nữ, không chừa bỏ một loài cầm thú nhỏ nhen câm điếc nào. Hành giả tự đồng hóa với tất cả, tự mình chan hòa trong toàn thể, thấy vạn vật và mình là một. Tâm hành giả không còn một điểm vị kỷ, vượt lên khỏi mọi hình thức chia rẽ riêng tư, không bị giam hãm trong những tư tưởng hẹp hòi. Hành giả nhìn tất cả thế gian là quê hương của mình, và tất cả mọi người là bạn đồng hành của mình, có thể nói đó là đời sống chan hòa của muôn loài vạn vật.

2. TÂM BI

Đức tính thứ nhì giúp con người trở nên cao thượng là tâm bi. Bi là động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của kẻ khác, là cái thoa dịu nỗi đau khổ của con người. Đặc tánh của tâm bi là ý muốn giúp người khác thoát khỏi cảnh khổ.

Lòng của người có tâm bi mềm dịu hơn cả những đóa hoa mềm, ngày nào chưa cứu giúp kẻ khác thì tâm bi không hề tự mãn. Lắm khi để làm êm dịu sự đau khổ của kẻ khác, người có tâm bi không ngần ngại hy sinh đến cả thân mình. Chính do nơi tâm bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong khi phục vụ. Người có tâm từ bi không sống cho mình mà sống cho kẻ khác, luôn luôn tìm cơ hội để giúp cho đời, nhưng không bao giờ mong đền ơn đáp nghĩa.

Đối tượng của tâm bi là gì? Là những kẻ nghèo hèn đói rách, túng thiếu, cơ hàn, đau ốm, cô đơn, dốt nát, hư hèn, người có đời sống ô trược, buông lung… không phân biệt chủng tộc, giai cấp hoặc tôn giáo. Chẳng luận về tinh thần hay vật chất, bổn phận cao cả của người có tâm bi là giúp đỡ cho người hết đau khổ. Biết bao nhiêu đàn ông, đàn bà, trẻ em, già cả đang sống trong cảnh cơ hàn, thiếu thốn đến suy kiệt người còn da bọc xương, hoặc chết cúm ngoài đầu đường xó chợ. Ngày kia, có chàng sinh viên trẻ tuổi về nhà xin phép mẹ gỡ tấm màn treo trên cửa để cho một người nghèo đói rách. Chàng nói rằng nếu không có bức màn, cái cửa không đến nổi phải chịu lạnh, nhưng nếu thiếu quần áo thì chắc chắn người nghèo ấy phải khổ sở đau bịnh vì lạnh. Đó là tấm gương tốt của người có tâm bi.

Người giàu tiền của có bổn phận giúp đỡ người nghèo vật chất. Người giàu tinh thần đạo đức cũng có bổn phận giúp đỡ kẻ nghèo tinh thần, mặc dầu người ấy có thể là một đại phú gia, có tiền rừng bạc bể. Kho tàng của báu không đem lại an vui cho tinh thần. Tâm trạng an vui chỉ do kho tàng đạo đức tạo ra mà thôi.

Hạng người phóng đảng tội lỗi lại càng được xót thương hơn, vì họ là những người bệnh hoạn về tinh thần. Ta không khinh rẻ hay bài xích hạng người yếu đuối ấy, vì họ đã bị lầm đường lạc lối, ta nên thương xót và dắt dìu họ trở lại con đường phải. Như đức Phật xưa kia, với lòng từ ngài đã cứu độ cho nàng Liên Hoa Sắc- người phụ nữ lạc bước giang hồ- và anh chàng Vô Não- một tên sát nhân tàn ác, được Phật khai thị nên phát tâm xuất gia, xả bỏ mê lầm, thành tựu được Thánh quả.

Cha mẹ thương đồng đều các con nhưng đặc biệt chăm nom săn sóc những đứa ốm yếu hoặc kém sút, cũng như thế tâm bi của ta phải bao trùm tất cả chúng sanh đau khổ, nhưng riêng đối với những hạng người bịnh hoạn tinh thần, sút kém đạo đức, ta nên có lòng thương xót đặc biệt và hết lòng giúp đỡ dẫn dắt họ trở lại đường lành. Bên trong mỗi người, dẫu là xấu xa tàn ác đến đâu, vẫn tiềm ngầm những đức tính tốt. Đôi khi chỉ một lời nói phải, đúng lúc cũng có thể cải hóa được con người từ dữ ra lành. Như vua A So Ka trước kia ở Ấn Độ, là một bạo chúa hung ác nhất, thế mà khi nghe được lời nói phải của một thầy Sa di trẻ tuổi, nhà vua đổi hẳn tính tình, mạnh tiến trên đường tự giác và trở nên một ông vua hiền đức.

Tâm bi vô lượng vô biên, vô hạn định. Tâm bi phải được rải đến cho tất cả, không bỏ một loài cầm thú nhỏ nhít nào. Tự giết hoặc sai bảo người khác giết những con thú vô tội để bày tiệc linh đình, ăn uống hả hê cũng là hành động trái ngược với tâm bi. Thế gian ngày nay, sống trong sự căm thù oán hận, tham lam, ô trược là nhân loại đang đi lần đến họa diệt vong. Muốn cứu vãn tình thế này, toàn thể loài người cần phải thực hiện tâm bi để tiêu trừ những hành động ác và tàn bạo. Ta cũng nên nhận định rằng tâm bi của Phật giáo không phải những giọt nước mắt nhỏ suông mà phải thể hiện bằng việc làm từ thiện. Kẻ thù gián tiếp của tâm bi là sự âu sầu, phiền não.

3. TÂM HỶ

Đức tính cao thượng thứ ba trong tứ vô lượng tâm là hỷ. Hỷ đây không phải là cái vui đón cảm tình riêng đối với một người nào, cũng không phải là trạng thái thỏa thích suông mà là lòng hoan hỷ trước sự an vui của người khác, trước hành động thiện lành của mọi người.

Lòng ganh tị là kẻ thù trực tiếp của tâm hỷ, và hỷ là cái vui làm tiêu tan lòng ganh tị. Ganh tị có sức phá hoại vô cùng nguy hiểm. Có nhiều người lấy làm bực tức, khó chịu khi thấy hoặc nghe nói người khác thành tựu mỹ mãn một công việc nào. Thấy người thất bại thì vui mừng thỏa thích, trái lại không thể chịu đựng sự thành công của kẻ khác và cố gắng phá hoại, hoặc bóp méo sự thật để chê bai người, thay vì vui lên để tán dương thắng lợi của người. Con người phàm phu tầm thường luôn luôn có tánh thừa cơ rửa hận, nên không bao giờ bộc lộ được vui vẻ trước cái vui của người thù nghịch, mà chỉ có thể nhẹ nhàng đối với người mình thân thích mà thôi.

Người phương Đông có thành thật thỏa thích với sự thịnh vượng của người phương Tây không? Người phương Tây có thành thật vui sướng khi nhìn thấy sự phồn vinh của người phương Đông không? Và mặc dù mục đích của các tôn giáo là mở mang tinh thần đạo đức, nhưng giáo phái này có vui mà thấy ảnh hưởng tinh thần của một giáo phái khác bành trướng mạnh mẽ không? Tôn giáo này ganh tị với tôn giáo khác, tổ chức này ganh tị với đoàn thể kia, tiệm buôn này ganh tị với cửa hàng khác, gia đình này ganh tị với gia đình kia. Học trò này ganh tị với học trò kia, cho đến chị em trong nhà có khi cũng ganh tị lẫn nhau. Lòng ganh tị còn thúc đẩy con người làm những điều vô cùng độc ác nham hiểm để hại đối phương. Đó là bản tính tội lỗi của người thế gian đang miệt mài say đắm trong ảo mộng. Nếu so sánh tâm từ với tâm bi thì tâm hỷ lại càng khó thực hiện. Muốn có tâm hỷ phải có ý chí mạnh mẽ và phải hết sức cố gắng.

Về mọi phương diện, chính người có tâm hỷ trực tiếp hưởng nhiều lợi ích do tâm ấy đem lại hơn là người khác, vì tâm hỷ không chất chứa lòng ganh tị nên không phiền não. Về một phương diện khác, người có tâm hỷ không bao giờ làm trở ngại đường tiến bộ và quấy rối sự an lạc của ai. Người Phật tử nên thực hành tâm hỷ trong đời sống cá nhân, cũng như đời sống tập thể để tạo an vui hạnh phúc và vươn mình lên để sống trong sạch và thanh cao.

Đặc tính của tâm hỷ là hoan hỷ với người thành công, người phước lộc đầy đủ, vui một cách thành thật thoải mái chớ không phải làm ra vẻ hân hoan ngoài mặt mà bên trong chất chứa căm thù. Vui cười hỷ hê hay làm trò phỉnh khích đều không phải là đặc tánh của tâm hỷ. Tâm hỷ là đức tánh thành thật chung vui, chung mừng và ngợi khen. Tâm hỷ loại trừ mọi hình thức bất mãn trước sự thành công của kẻ khác.

4. TÂM XẢ

Xả ở đây không có nghĩa lạnh lùng, lãnh đạm không màng đến thế sự, cũng không phải cảm giác vô ký, không vui không thích, không phiền não. Được thua, thành bại, ca tụng, khiển trách, hạnh phúc và phiền não,… là những việc xảy ra trong đời. Gây xúc cảm tốt với người thì được ca tụng ta lấy làm vui thích, bị khiển trách thì buồn rầu là lẽ thường. Nhưng giữa cuộc thăng trầm của thế sự, đức Phật dạy rằng: “Người khôn luôn luôn thản nhiên, hành tâm xả. Vững chắc như tảng đá to sừng sững giữa trời”. Khinh rẻ, phỉ báng, nguyền rủa là thường tình. Hạng người trong sạch, đạo đức thường bị chỉ trích. Giữa cơn giông tố của trường đời, người quân tử luôn luôn giữ tâm bình thản. Kinh Pháp Cú có câu:

Vững vàng thay ngọn đại sơn

Bão to gió lớn, chẳng sờn chẳng lay

Người đại trí vững vàng thay.

Lời khen, tiếng báng chẳng lay chẳng sờn.

Đời sống của đức Phật là một gương sáng về tâm xả cho những ai còn luân chuyển trong vòng tam giới. Chưa từng có một vị giáo chủ hay một nhân vật nào bị chỉ trích nghiêm khắc, bị đả kích, sỉ nhục hoặc bị lăng mạ nhiều như đức Phật mà ngài cũng là người được tán dương, sùng bái và tôn kính nhất.

Thuở xưa, trong khi đức Phật đi khất thực, có một đạo sĩ Bà la môn ngạo mạn kêu ngài là người cùng đinh ăn mày và đối xử với ngài hết sức vô lễ. Ngài thản nhiên chịu đựng và ôn hòa giải thích cho đạo sĩ thế nào là cùng đinh, và vì sao chẳng nên khinh rẻ hạng người này, khiến cho đạo sĩ lấy làm khâm phục.

Một lần khác, có người thỉnh đức Phật đến nhà trai tăng, khi đức Phật đến, chủ nhà lại dùng lời vô lễ đối xử với ngài một cách thậm tệ. Nhưng đức Phật không tức giận, ôn tồn hỏi chủ nhà: “Nếu ông biết có khách đến viếng nhà ông, ông phải làm sao?”

Chủ nhà đáp: “Tôi sẽ sửa soạn bữa cơm để đãi khách”

Đức Phật nói: “Tốt lắm, nhưng nếu khách không ăn thì làm sao?”

Chủ nhà đáp: “Thì tôi sẽ cùng vợ con chia nhau bữa cơm”

Đức Phật nói: “Tốt lắm! Này bạn, hôm nay bạn mời như lai đến nhà để đãi ăn, bạn đã dọn lên cho Như Lai những lời thô lỗ cộc cằn, Như Lai không nhận, vậy xin ông hãy giữ lấy”.

Lời nói này đã làm cho ông chủ nhà thay đổi hẳn thái độ. Trong kinh Pháp cú có câu:

Lời sỉ vả mặc người khinh dễ,

Ta lặng lờ như thể chuông câm

Niết bàn tự tại bước chân

Người đâu tranh cãi chống ngăn được nào…

Đó là những lời vàng ngọc mà đức Phật khuyên ta nên ghi nhớ hằng ngày trong kiếp sống vô thường biến đổi này.

Và còn rất nhiều nghịch cảnh đến với Thế tôn như: Lần nọ, một mệnh phụ phu nhân xúi giục một người say rượu đến nhục mạ đức Phật thậm tệ, đến nỗi đại đức A Nan không thể chịu được, nên yêu cầu đức Phật sang qua xứ khác, nhưng đức Phật không đổi chỗ cũng không hề xúc động.

Một người đàn bà nọ giả có mang để vu oan đức Phật giữa công chúng. Rồi một người đàn bà khác bị giết để vu cáo đức Phật phạm tội sát sanh. Một người bà con và cũng là đệ tử của Phật đã manh tâm lăn đá từ trên đồi cao quyết giết hại ngài. Chí đến trong hàng đệ tử của ngài cũng từng hờn trách ngài đố kị, thiên vị, bất công…

Trái lại, không biết bao nhiêu người đã tán dương ca tụng ngài, kể cả các bậc vua chúa khấu đầu lễ bái dưới chân ngài. Như mặt đất, đức Phật nhận tất cả với một tâm xả hoàn toàn.

Vững như voi, mạnh như hổ, ta không nên run sợ trước tiếng động. “Miệng lằn, lưỡi mối” không làm ta xúc động, như gió thổi ngang màn lưới mà không bị vướng trong lưới. Tuy sống giữa chợ, người ta không nên luyến ái những lạc thú huyễn ảo và vô thường của đời. Như hoa sen từ bùn nhơ, nước đục, vượt lên trên bao nhiêu quyến rũ thế gian, ta phải sống luôn tinh khiết, trong sạch, yên tĩnh và an vui.

Tâm xả lánh xa lòng tham ái chấp trước và trạng thái bất mãn. Thái độ vô tư, thản nhiên, an tịnh, là đặc tánh quan trọng của tâm xả. Người có tâm xả không thích thú trong vui sướng, cũng không bực tức trong phiền não. Người có tâm xả đối xử với mọi người đồng đều, không thấy sự khác biệt giữa người tội lỗi và bực thánh nhân.

Kẻ thù trực tiếp của tâm xả là sự luyến ái, và kẻ thù gián tiếp là sự lãnh đạm, xoay lưng với cuộc đời, thế sự.

Tóm lại

Tâm từ bao trùm mọi chúng sanh, tâm bi cứu vớt mọi chúng sanh đau khổ, tâm hỷ vui vẻ trước chúng sanh hạnh phúc. Tâm xả loại bỏ hết những cấu bẩn trong tâm thức khi sống cùng người, trước mọi việc tốt và xấu, những điều khả ái hay khả ố, thích thú hay nghịch lòng đều tự tại vô ngại. Vì chấp trước nên phiền não, mới sanh tử luân hồi. Đức Phật dạy chúng ta: “Phóng hạ vạn duyên, tức thời thành Phật”. Nghĩa là buông xả hết muôn duyên, không còn mảy may dích mắc, thì liền thành Phật đạo. Chấp trước thì nặng nề bực bội, buông xả thì được nhẹ nhàng thanh thoát, nhất là xả được vọng tưởng điên đảo thì mới thật là đại xả vậy.

Như vậy Tứ Vô Lượng Tâm là bốn đức tính vô cùng quí báu của Đại thừa tâm pháp mà hàng Phật tử tại gia hay xuất gia đều phải thực hành để mau viên thành đạo quả.

Người không biết tu thì thấy đường đạo xa xôi diệu vợi, dễ sanh lòng chán nản. Còn người biết tu thì thấy rất dễ dàng, an nhàn giải thoát.

Rất mong tất cả mọi người đều hăng hái phấn khởi thực hành từ, bi, hỷ, xả để lợi lạc cho mình và người.

LỢI ÍCH CỦA BỐN PHÁP TỪ, BI, HỶ, XẢ VỀ PHƯƠNG DIỆN BẢO TỒN SỨC KHOẺ

Tâm từ là lòng thương bao la rộng lớn, đồng đều đối với chính mình và muôn loài vạn vật cũng như tất cả nhân loại. Thực hành tâm này chúng ta không những diệt trừ bản tính sân hận được tận gốc, mà còn tránh được những căn bệnh về bộ máy hô hấp và tuần hoàn.
Tâm bi là lòng xót xa thương hại những chúng sanh đang đau khổ và tùy phương tiện dìu dắt họ ra khỏi cảnh ngộ thương tâm ấy. Nếu sống thuần với tâm này thì bản tánh độc ác không còn trú ẩn và chính hành giả sẽ không vướng những bịnh về bộ máy tiêu hoá.
Tâm hỷ là lòng hoan hỷ vui mừng trước mọi thành công và hạnh phúc của kẻ khác, như vậy thì bản tánh ganh tị, ghen ghét sẽ bị bứng tận gốc, cũng như các chứng bệnh về bộ máy hô hấp.
Tâm Xả là lòng an định quân bình, không rung động trước cảnh vui buồn, không chấp có ta, có người, có kẻ thân, người sơ, kẻ thù, người bạn, có dòng giống, chủng tộc. Được vậy sẽ giữ cho bộ máy thần kinh bài tiết an toàn.

Những Phật tử đang bức rức đau khổ, đương lâm cảnh tiền mất tật còn vì những chứng bệnh trầm kha nói trên hãy mau thực hành bốn pháp Từ Bi Hỷ Xả này?

Ngày nào nhân loại, nhất là toàn thể các giới tu Phật đều lấy pháp Từ Bi Hỷ Xả đối với nhau, thì ngày ấy không còn những cảnh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn, khổ đau tang tóc nữa mà sẽ chung hưởng với nhau một đời sống đầy an vui, sung sướng…

Cư sĩ Nguyễn Trạch Thiện.

Vâng lệnh đại đức Narada Maha There, tôi xin trình bày sơ lược đôi điều suy nghiệm về nguyên nhân sâu kín của vài căn bệnh nan y mà bốn pháp Từ Bi Hỷ Xả có thể giúp bệnh nhân tự giải độc cho mình khi thuốc men không đủ công hiệu chữa trị tận gốc, cũng như trong lúc lương y chưa tìm ra căn cội chính xác của chứng bệnh.

Trước khi vào vấn đề, tôi xin tóm lược một đoạn lịch sử cuả nền y học Âu Tây.

Lúc sơ khởi, các nhà bác học chia thành hai lối chữa trị.

1. Chú trọng về mặt tinh thần của bệnh nhân và thăm dò căn bệnh nơi chỗ suy yếu của thần kinh.

2. Chỉ quan tâm đến trạng thái cơ thể của bệnh nhân, và suy tầm căn bệnh trong những rối loạn của thể xác.

Kết cuộc, lối thứ nhì thắng thế và phát triển rất mạnh mẽ. Để tìm nguyên nhân của các căn bệnh, y khoa bắt đầu chia cơ thể một cách hệ thống: Hệ thống thần kinh, hệ thống hô hấp, hệ thống bài tiết, hệ thống tiêu hóa…

Nhưng sự phân tích ấy cũng chưa đủ để khám phá tường tận nguồn gốc của chứng bệnh, người ta bắt đầu phân tách các bộ phận ra mô rồi ra tế bào, nhờ sự phát minh ra kính hiển vi và các mô hình, quy luật di truyền… Kịp thời nhà bác học Pasteur tìm ra những vi trùng. Khoa học từ đó khám phá các loại vi trùng để định đoạt phương thức chữa trị.

Mặc dù với sự tiến triển không ngừng của y học và sự phát minh tối tân cuả khoa học, lắm khi các vị cũng tự thấy bất lực trước rất nhiều chứng bệnh nan giải nan trị, khi đó người ta xoay về yếu tố quan trọng của cơ thể, đấy là yếu tố cuả tinh thần.

Tinh thần chế ngự thể xác, ai ai cũng công nhận như thế. Lời nói, hành động cùng tất cả những cử động của cơ thể đều phát sinh do sự điều khiển của tư tưởng, ý muốn và mọi rung động của tinh thần, xuyên qua hai hệ thống:

1. Hệ thống thần kinh hữu ý của đời sống liên lạc bên ngoài: Những cảm xúc của tinh thần được truyền qua các bắp thịt, do hệ thống này để gây ra cử động. Khi vui ta cười, lúc buồn ta khóc, gặp nguy ta chạy trốn, lúc đau ta nhăn mày, lúc giận ta la hét…

2. Hệ thống thần kinh vô tâm của đời sống dinh dưỡng bên trong: Khi tinh thần bị cảm xúc mà không được phát lộ ra ngoài, nó sẽ gây một áp lực phản kích trên các bộ phận, tùy thuộc nơi hệ thống thần kinh vô tâm của đời sống dinh dưỡng bên trong. Những nhu cầu phức tạp hiện nay thường gây ra nhiều cảm xúc không được biểu lộ ra ngoài một cách tự nhiên, lại bị đè nén dồn ép bên trong, làm cho xáo trộn tác dụng của các bộ phận ấy. Như trước một đám đông người, nếu lửa sân hận phát sinh nơi ta, ta không thể la hét chửi mắng một cách công khai cho đã nư giận, trái lại phải nuốt cái giận ấy vào trong, vô tình tự nhiên ta đốt lấy ta, tự gây thương tổn cho cơ thể. Khoa học đã tìm thấy rằng mỗi loại vi trùng có một ái tính riêng biệt đối với một loại tế bào hay một bộ phận nào đó trong cơ thể con người. Như vi trùng lao thường thích đục khoét lá phổi chẳng hạn. Mặt khác, khoa tâm lí học cho ta biết rằng cảm xúc của ta cũng có sự giao cảm riêng biệt đối với một cơ quan nào đó trong nội tạng.

Ảnh hưởng sân hận trên bộ máy tuần hoàn.

Lửa sân hận đặc biệt gây nhiều xáo trộn cho bộ máy tuần hoàn chủ yếu gồm có hai phần: Trái tim và huyết quản.

Đối với trái tim:

Trái tim bình thường khi đập nó đẩy ra 60 gram máu. Số máu này phải lưu chuyển khắp cơ thể theo một con đường dài độ khoảng 2 mét. Mỗi phút, trái tim đập khoảng 75 nhịp. Tính ra mỗi ngày trái tim– một bộ phận nhỏ bé mà phải đảm đương một công việc rất nặng nề:

60gam x 2m x 75nhịp x 60 phút x 24 giờ = 13 tấn máu/mét

Nghĩa là một năng suất tương đương với một cái máy đỡ một sức nặng 13 tấn trên một thước tây.

Mỗi khi chúng ta phát sân, trái tim phải đập nhanh lên và thay vì đập 75 lần/phút, nó phải đập 120 lần hoặc 150 lần. Như vậy nó phải làm việc gấp đôi và do đó mới có bệnh đau tim Và nếu người đã đau tim mà gặp cảnh gì làm cho nổi sân lên thì sẽ ngã ra chết ngay vì trái tim quá mệt, không còn đủ sức để đập nhanh hơn nữa.

Đối với huyết quản:

Nói qua phần thứ hai của bộ máy tuần hoàn là huyết quản. Trong cơ thể, thận là bộ phận tiếp nhiều huyết quản nhất sau quả tim, thận là một cơ quan làm việc rất nhiều. Mỗi ngày, thận phải lọc 184 lít máu để bài tiết 1 lít rưỡi nước tiểu. Để đủ sức làm việc, thận cần dùng nhiều chất bổ dưỡng, nhất là dưỡng khí. Khi bị lửa sân kích thích, tim đập nhanh không đủ thời giờ thu hút dưỡng khí nơi phổi để cung cấp cho các nơi, do đó các cơ quan trong cơ thể phải thiếu số dưỡng khí cần thiết. và các tế bào của thận phải bị ngộp. Khi ngộp thận phải tiết ra một chất gọi là Rénine. Khi vào máu, Rénine sẽ hòa với một chất khác gọi là Hypertensinogène. Chính chất này gây ra bệnh “tăng áp lực huyết” là một thứ bệnh của huyết quản gọi là Hypertension.

Như vậy, thấy rằng tánh sân hận thường sanh ra bệnh đau tim và bệnh tăng áp huyết cao. Đã bị áp huyết cao, nếu khi giận quá mức, áp lực máu tăng dồn lên đầu quá nhiều, làm cho mạch máu não không chịu đựng nổi phải bị đứt, và bệnh nhân cũng ngã ra chết ngay lập tức.

Điều này 2500 năm về trước, đức Phật đã trông thấy bằng tuệ nhãn, nên ngài khuyên chúng sanh thường xuyên thực hành pháp Metta (luyện tâm từ) để diệt trừ lửa sân hận. Tâm từ là tình thương chân thật đồng đều, bao phủ muôn loài vạn vật. Khi vun bồi được tình thương vô lượng ấy, con người không còn thù hận nhau nữa.

Ảnh hưởng của tánh hung ác đối với bộ máy tiêu hóa:

Trước tiên, tôi xin nói qua tánh hung ác tàn bạo của con người bởi ảnh hưởng tánh này đặc biệt gây thương tổn cho bộ máy tiêu hóa. Kẻ hung dữ thường hay đánh đập, chém giết người thù một cách dễ dàng, vì họ vui thích thấy máu chảy, thịt rơi và lấy làm sung sướng khi nghe những tiếng khóc than rên xiết. Khi lửa ác nổi lên, nếu họ không gây thương tích, không sát hại được kẻ thù, thì lửa độc ấy trở lại tác động ngược vào các bộ phận bên trong, nhất là bộ máy tiêu hóa, vì chính bộ máy này có tính khao khát, thèm thuồng vật thực. Khi ta đói thì thần kinh của dạ dày kích thích, làm cho bao tử tiết ra dịch vị (Sucgatrique). Trong dịch vị có chất acide-chlorhyrique. Chất này cũng như các loại acide khác, có tính cách thiêu đốt. Những vật thực đưa vào bao tử nhờ các acide-chlorhyrique để tiêu hóa, và đồng thời vật thực ấy thu hút hết hiệu năng thiêu đốt của acide, nên nó không gây hại cho dạ dày. Nhưng đối với kẻ hung dữ, mỗi khi không hành động theo ý muốn, thì lửa ác trở vào kích thích sự bài tiết acide-chlorhyrique một cách bất thường. Do đó bao tử và ruột bị công phạt mỗi lần một ít, lâu dần bị thương tổn đau nhức, và có thể bị thủng đứt.

Tất cả chúng sanh đều có sân hận và tham lam nên thêm phần si mê nữa nên dễ thành ác độc. Một người hiền khi gặp một cảnh ức lòng có thể trở thành kẻ sát nhân khi quyền lợi của mình bị tước đoạt. Ví như: Khi thân nhân bị giết oan, ác tâm nổi lên xúi biểu trả thù, ngày nào chưa rửa được mối hận thù, bệnh đau dạ dày có thể phát sanh. Dầu lương y có tài ba đến đâu … thuốc men có công hiệu đến mấy, căn bệnh cũng khó khỏi được.

Những ai biết thực hành pháp Bi của đức Phật mới có thể tránh gây thương tổn cho bộ máy tiêu hóa. Người này trau dồi được một tấm lòng thương xót đồng đều với những người đau khổ. Dĩ nhiên người ấy không còn ác tâm gây đau khổ cho kẻ khác, dù là họ bị kẻ khác làm cho đau khổ.

Ảnh hưởng của tánh ganh tị đối với bộ máy hô hấp:

Ganh tị cũng là một đặc tánh chung của loài người, tánh ganh tị là một thứ lửa công phạt bộ máy hô hấp. Người ganh tị khi thấy ai giàu sang quyền quý, cùng tài cán hơn mình, liền sanh tâm ghen ghét, bực tức, xốn xang, dèm pha chỉ trích. Tự mình thiêu đốt lấy mình mà không hay, không biết: thân tâm hồi hộp, tứ chi rũ rượi, hơi thở không điều hòa, thở vô nhiều, thở ra ít. Do đó số lượng khí tích chứa gia tăng. Lúc bình thường số lượng khí vừa đủ để nung nóng vật thực thành nhiệt lượng, và một phần giúp vào sự hô hấp của các tế bào trong cơ thể, nhưng nếu số lượng dưỡng khí gia tăng gấp bội, bộ máy hô hấp sẽ bị công phạt.

Có ba loại vật thực:

  • Glucide là loại đường. Một gam đường khi bị đốt cháy sẽ cho ra 5 calori.
  • Lipide là loại chất béo. Một gam dầu mỡ khi bị dưỡng khí đốt cháy sẽ tiết ra 9 calori.
  • Protide là chất đạm. Một gam chất đạm khi bị dưỡng khí đốt cháy sẽ tiết ra 4 calori (nhiệt lượng). Chất đạm có nhiều trong các thứ đậu và thịt cá…Nhờ nó mà một mặt chúng ta có đủ sức nóng để hô hấp, và để giữ nhiệt độ trung bình là 37 độ, và mặt khác chúng ta có đủ năng lượng cần thiết cho sự họat động.

Mỗi ngày, người làm việc trung bình cần tới 2000 calori. Nếu số calori này tăng trưởng thì sức nóng thừa sẽ vọng lên công phạt bộ máy hô hấp, gây ra một trạng thái hỗn loạn cho phổi. Vi trùng lao sẽ thừa cơ xâm nhập vào phổi. Bên cạnh đó, trạng thái mất quân bình cũng có thể là nguyên nhân sanh ra bệnh suyễn.

Khi trị bệnh lao phổi, các vị lương y chỉ những thuốc diệt trừ vi trùng lao như Streptomycine, Rimifon, Pas, Calcium. Tất cả đều đem thêm chất hỏa vào phổi. Trong trường hợp này, nếu bệnh nhân không biết tự giải căn bệnh lao tâm của mình, thì khó mà lành mạnh được.

Lại nữa, nhiệt năng thường biến đổi thành động năng khiến cho các động vật phải cuồng hăng hoạt động. Do đó, nhiệt lượng thường làm cho bệnh nhân bức rức khó chịu, thao thức sáng đêm. Nếu người háo sắc mà động năng nhiều sẽ trở nên cuồng dâm, hãm hiếp vợ con người. Nếu người nữ động năng nhiều sẽ đa dâm, ngoại tình hoặc làm nghề mại dâm. Những người nào có động năng nhiều sẽ bộc lộ rõ ràng những thú tánh trong người họ ra.

Vậy bệnh lao và suyễn có thể bắt nguồn từ tánh ganh tị. Những ai lỡ mang hai chứng bệnh ấy và các bệnh cuồng sát, cuồng dâm thì nên cố gắng diệt trừ tánh ganh tị để giúp cho lương y điều trị mau chóng căn bệnh.

Ganh tỵ là một tính xấu tiềm tàng ẩn núp trong mỗi chúng sanh. Cũng như các tánh xấu khác, nếu biểu lộ trong lời nói, trong hành động. Người ngoài biết ta ganh tị mà tự ta không biết. Bởi chính ta nằm trong ganh tị, chính ta thể hiện sự ganh tị.

Đức Phật đã dành sẵn cho ta một phương lương dược để diệt trừ ganh tỵ, đó là pháp Hỷ. Thực hành pháp hỷ, ta sẽ thay thế tánh ganh tỵ bằng tâm hoan hỷ, vui mừng trước sự thành công và hạnh phúc của mọi người.

Ảnh hưởng của tánh chuộng vui, ghét, buồn trên bộ máy bài tiết:

Đây là tập khí lâu đời tích tụ bởi một số tư tưởng sai lầm rằng: Mình có một cái ta riêng biệt, một cái bản ngã độc tôn, ích kỷ, bất khả xâm phạm. Vì chấp ta, nên khi đắc lợi thì vui, lúc thất lợi thì buồn, được khen thì mừng, bị chê thì giận. Có tài sản tước lộc gì thì hả hê, mất tài sản tước lộc thì sầu bi. Con người từ khi biết đi, biết chạy đã bắt đầu tìm kiếm cái vừa lòng và xua đuổi cái nghịch ý. Nhớ lại lúc còn thơ ấu, nếu ham chơi đùa giỡn, tới lúc phải đi tiêu chúng ta phải nín lại, vì cho đó là phiền phức, có đôi khi đôi ba ngày không đi tiêu, cha mẹ sợ bệnh, luôn luôn nhắc chừng và thường phải ngồi xi cho chúng ta. Mỗi khi tiêu rồi, ta còn được khen ngợi đủ điều. Nhiều trẻ em nặng tính ưa chuộng nuông chìu, mỗi ngày chờ cho có người dỗ ngọt mới chịu đi tiêu. Thói quen này dần dần in sâu vào tiềm thức của các em, lớn lên khi gặp điều chi trái ý, phật lòng vô tình giữ phẩn trong ruột, càng gặp nhiều phiền não càng uất trường, càng sầu muộn càng táo bón. Căn bệnh này thường xảy ra cho người đa cảm, đa sầu, và hờn mát giận ngầm. Trong một trường hợp khác, có người lại mang chứng bệnh hạ tiện kinh niên, những người này có tánh khoan khoái muốn cho ra những điều mà họ không có.

Buồn không được cởi mở, vui không được thi thố, như ta đã thấy, có những phản chuyển nguy hại cho hệ bài tiết. Vui quá mức, buồn quá độ còn có thể gây ra sự xáo trộn cho hệ thống thần kinh, làm cho con người phải rối loạn tinh thần, mất trí, khùng điên.

Người nào thường hành pháp Xả của đức Phật sẽ tránh được chứng bệnh nói trên. Pháp Xả có năng lực giúp cho hành giả khỏi bị dính mắc trong vui, trong buồn. Tâm trí quân bình, an tịnh, hành giả sẽ tự thấy mình và chúng sanh đều là những hiện tượng biến đổi không ngừng, hết sanh tới diệt và nhận thấy vì lầm lạc cố chấp có cái Ta, cái bản ngã ích kỷ, nên mới có khổ. Biết được cái nhân sanh khổ là ngã chấp, hành giả đã tiến một bước khá dài trên đường diệt khổ.

Ngoài mục đích giác ngộ, cũng như ngoài vô số căn bệnh của thể xác, thuộc phạm vi chữa trị của y khoa, bốn pháp Từ, Bi, Hỷ, Xả giúp cho người tu Phật xa lánh những căn bệnh vô hình, có ảnh hưởng tai hại cho bước đường tiến hóa đến nơi giải thoát.




Lương Hoàng Sám Pháp - Quyển 2
Ngày đăng tin: 13/03/2018
Lương Hoàng Sám Pháp - Quyển 1
Ngày đăng tin: 07/03/2018
Tịnh Độ Thập Nghi Luận
Ngày đăng tin: 21/02/2018
Nhẫn Thì An
Ngày đăng tin: 21/02/2018